Cập nhật lúc 09:16 15/11/2016 (GMT+7)
Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác ra đời trước hay sau khi Phật nhập Niết bàn?

Kinh Phật Thuyết Đại Thừa có trước hay sau khi nhập Niết bàn?

(PGVN)

Đức Phật đã biết thời Mạt pháp sẽ có nhiều hàng tăng thượng mạn, tà sư, tà đạo, ma quỷ phỉ v.v… xuất hiện, lợi dụng sự kém hiểu biết của mọi người do không có điều kiện nghiên cứu kinh điển nên đã xuyên tạc, phạm lỗi phỉ báng chính pháp, nên Ngài đã dạy chúng ta: “y kinh không y nhân”, tức là lấy kinh Phật làm thầy mà quán xét thật tự, đúng sai. Vậy chúng ta đem kinh ra đối chiếu sẽ thấy rõ chân tướng của sự thật dễ dàng. 

Các bạn đồng tu thân mến!

“Ngày nay càng xuất hiện nhiều người tu thiền hay các pháp môn khác phát ngôn một cách vô trách nhiệm nào là “không có Phật A Di Đà và Tây phương Cực lạc”… Rồi lại đến có vị nói kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác ra đời sau khi Phật nhập Niết bàn mấy trăm năm?.”

Vậy người tu hành, các bạn đồng tu chúng ta hiểu việc này như thế nào cho đúng? Đức Phật đã biết thời Mạt pháp sẽ có nhiều hàng tăng thượng mạn, tà sư, tà đạo, ma quỷ phỉ v.v… xuất hiện, lợi dụng sự kém hiểu biết của mọi người do không có điều kiện nghiên cứu kinh điển nên đã xuyên tạc, phạm lỗi phỉ báng chính pháp, nên Ngài đã dạy chúng ta: “y kinh không y nhân”, tức là lấy kinh Phật làm thầy mà quán xét thật tự, đúng sai. Vậy chúng ta đem kinh ra đối chiếu sẽ thấy rõ chân tướng của sự thật dễ dàng.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã cho chúng ta pháp môn niệm Phật (Tịnh độ) này ngay khi Phật còn tại thế, vì biết chúng sinh ở đời Mạt pháp về sau căn cơ thấp kém, hoàn cảnh xã hội không như thời Chính pháp và thời Tượng pháp thể theo yêu cầu tha thiết của ngài Diệu Nguyệt đã cho chúng ta pháp môn niệm Phật A Di Đà này.

Để chứng minh chắc chắn điều này, đập tan sự tuyên phỉ báng chính pháp của một số kẻ tăng thượng mạn, tôi xin đưa ra bằng chứng xác thực từ cả hai kinh tiêu biểu nhất của pháp môn Tịnh độ mà đức Phật đã tuyên thuyết khi Ngài còn tại thế như sau: 

1. Ở kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác, chúng ta đọc ngay ở đầu cuốn kinh có câu: "Tôi nghe như vầy(9): Một thời đức Phật ở tại thành Vương Xá(10), trong núi Linh Thứu(11) cùng mười hai ngàn các vị đại Tỳ kheo cùng nhau tề tựu. Tất cả đều là những bậc Đại Thánh(12) đã được các pháp thần thông(13). Tên các vị đó là: Ngài Tôn giả(14) Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan v.v... Các vị đó đều là những vị thượng thủ.

Tới dự lễ hội còn có các vị Bồ tát như là: Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Di Lặc cùng tất cả các vị Bồ tát trong Hiền Kiếp(15) này cùng đến tập hội.".... Lại còn có Ngài Hiền Hộ Bồ tát(17) v.v... và mười sáu bậc chánh sĩ, đó là: Ngài Thiện Tư Duy Bồ tát(18), Huệ Biện Tài Bồ tát(19), Quán Vô Trụ Bồ tát(20), Thần Thông Hoa Bồ tát(21), Quang Anh Bồ tát(22), Bảo Tràng Bồ tát(23), Trí Thượng Bồ tát(24), Tịch Căn Bồ tát(25), Tín Huệ Bồ tát(26), Nguyện Huệ Bồ tát(27), Hương Tượng Bồ tát(28), Bảo Anh Bồ tát(29), Trung Trụ Bồ tát(30), Chế Hạnh Bồ tát(31), Giải Thoát Bồ tát(32), đó đều là những vị thượng thủ cùng nhau tu theo đức hạnh của Ngài Phổ Hiền Đại Sỹ.

Các vị (đây) đã có vô lượng hạnh nguyện, tu hành nhanh chóng thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác(33), chất chứa tất cả các pháp công đức, dạo đi khắp cả mười phương, thực hành các pháp phương tiện để khiến cho chúng sinh thâm nhập Phật pháp tạng, trồng các cội công đức, rốt ráo bờ kia.

Các vị xưa ở trong vô lượng thế giới thị hiện giáng sinh làm các bậc vua chúa, đã tự lìa bỏ cung trời Đâu Suất(34), hay lúc giáng làm bậc vua mà đã từ bỏ ngôi báu để xuất gia tu theo khổ hạnh, cầu học Phật đạo, thuận theo thế gian, dùng sức định huệ để mà hàng phục ma oán, được pháp vi diệu thành bậc Chánh Giác....

Lại có năm trăm vị Tỳ kheo ni(54), bảy ngàn thiện nam, năm trăm thiện nữ, chư Thiên cõi Dục Giới và cõi trời Sắc Giới, các vị Phạm Chúng(55) cũng đều tới dự Hội.".....

Các bạn đồng tu thân mến!

Tôi phải xin gạch dưới câu kinh: “Một thời đức Phật ở tại thành Vương Xá trong núi Ky Xà Quật cùng mười hai ngàn các vị đại Tỳ kheo cùng tề tựu… để những người xuyên tạc kinh này có sự ý thức rõ ràng.

2. Một bằng chứng sống động Phật chứng minh đức Phật đã tuyên thuyết pháp môn niệm Phật và các kinh này khi Ngài còn tại thế như cũng tại những dòng đầu Phẩm thứ nhất Duyên Khởi của kinh Niệm Phật Ba La Mật có sự tham gia chỉ bảo thêm của hai vị Đại Bồ tát là đức Quán Thế Âm và Đại Hạnh Phổ Hiền. Chúng ta hãy đi vào kinh thì thấy rõ ngay: 

Phẩm thứ nhất: Duyên khởi 

Đức Phật thuyết kinh Niệm Phật Ba La Mật cho vua A Xà Thế và bà Vi Đề Hy, Cư sĩ Diệu Nguyệt và các vị Bồ tát, Thanh Văn và mọi tầng giai cấp sứ Ấn Độ.

Chính tôi được nghe như thế này: Một thuở nọ, đức Phật kết hạ tại núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá với chúng đại Tỳ kheo một muôn hai nghìn người. Đó là các vị trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề, La Hầu La, Phú Lâu Na, A Nan, A Nan Đà, Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Gia Du Đà La v.v...

Lại có tám muôn vị Đại Bồ tát ở khắp mười phương cùng đến tham dự. Đó là các ngài: Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát, Diệu Âm Bồ tát, Đại Cường Tinh Tấn Dũng Mãnh Bồ tát, Đà La Ni Tự Tại Công Đức Lâm Bồ tát, Trang Nghiêm Vương Bồ tát... tất cả đều có năng lực thâm nhập vô lượng tam muội môn, tổng trì môn, giải thoát môn, đã chứng pháp thân, đắc ngũ nhãn, biện tài vô ngại, thần thông du hý, biến hiện đủ loại thân tướng khắp các quốc độ để cứu vớt chúng sinh.

Lại có vô lượng Đại Phạm Thiên Vương, Tự Tại Thiên Vương, Đế Thích Thiên Vương, Đâu Suất Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương cùng vô số quyến thuộc dự hội. Lại có Long Vương: Khẩn Na La Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương... cùng vô số quyến thuộc câu hội. Lại có quốc mẫu Vi Đề Hy hoàng thái hậu và vua A Xà Thế cùng hoàng tộc, quần thần câu hội. Lại có hơn năm trăm vị trưởng giả cư sĩ của thành Vương Xá cùng vô số quyến thuộc câu hội. Tất cả đại chúng đều cung kính cúi lạy dưới chân Phật, rồi lui ngồi một bên.

Lúc bấy giờ, trong hàng Ưu bà tắc có một vị trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, trú ngụ tại thành Vương Xá, từng quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm, cùng đến dự pháp hội. Vị trưởng giả này từ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp quá khứ từng gần gũi thừa sự cúng dường vô lượng vô biên muôn ức hằng hà sa đức Phật, y theo chính pháp mà tu hành. Hiện tại làm thân cư sĩ, vợ con đông nhiều, nhà cửa nguy nga, kho đụn đầy rẫy.

Tuy ở giữa cảnh ràng buộc mà vẫn trưởng dưỡng tâm trí giải thoát. Tuy hưởng dụng ngũ dục thế gian, nhưng vẫn hoài bão đại nguyện độ sinh của chư Đại Bồ tát. Tuy ở trong chốn bùn lầy dơ bẩn mà vẫn sẵn sàng xả ly thân mạng tài sản, quyến thuộc để gieo trồng hạt giống Bồ Đề. Tuy ở trong căn nhà lửa chập chùng hiểm nạn mà vẫn thực hành tuệ giác vô lậu, hết lòng thương tưởng chúng sinh như con một, thể hiện pháp thí oán thân bình đẳng.

Trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng bước ra, đi nhiễu quanh đức Phật ba vòng, rồi đến trước Như Lai, chắp tay quỳ xuống, gối bên hữu chấm sát đất, cung kính bạch với đức Phật rằng:

Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thế Tôn! Được làm thân người là khó, như con rùa gặp bộng cây nổi, nhưng được gặp Phật ra đời còn khó gấp muôn phần. Gặp Phật ra đời đã khó, nhưng được nghe chính pháp lại còn khó gấp muôn phần. Được nghe chính pháp đã khó, nhưng làm thế nào để nương theo giáo nghĩa(1) tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần.

Bởi vì sao? Theo chỗ con xét nghĩ thì trong tám muôn bốn ngàn pháp mầu mà Như Lai đã chỉ dạy nhằm đưa hết thảy chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến, phải có một pháp mầu cứu vớt những hạng chúng sinh tội khổ, mê đắm, xấu ác. Hôm nay, con phụng vì hết thảy chúng sinh tội khổ nơi thời Mạt pháp, cũng như phụng vì các bậc trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, Sát đế lợi, Thủ đà la(2) tại thành Vương Xá này mà khẩn cầu đức Thế Tôn rủ lòng thương xót ban cho chúng con một cách thức tu hành thật dễ dàng để giải thoát, một con đường thật vắn tắt để hoàn thành Phật Trí. 

Như đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời Mạt pháp các chúng sinh trong cõi Diêm Phù Ðề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng quy y Tam Bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng thánh nhân.v.v... 

Cho nên con suy gẫm như thế này: phải có một môn tu thật giản đơn, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sinh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sinh tử khắp ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Vì sao như vậy? Sau khi Như Lai diệt độ khoảng một ngàn năm trở đi, đó là thời kỳ chính pháp cuối cùng, các kinh điển dần dần ẩn mất, chúng sinh căn cơ hạ liệt, ám độn, ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác để tự vui. Do đó tự nhiên chiêu cảm động đất, đói kém, tật dịch, binh đao, bão lụt, mất mùa, gió bão, thời tiết viêm nhiệt bức não. Thánh nhân lại không xuất hiện. Tuổi thọ giảm dần. Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành cũng không thể tu tập các môn Giới Luật, Thiền Ðịnh, Trí Tuệ, Giải Thoát vô lậu. Không thể tu tập Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Ðạo, Tứ Chánh Cần.

Không thể tu tập Tứ Vô Lượng Tâm, không thể tu tập Sáu Ba La Mật, hoặc là Bố Thí Ba La Mật, nhẫn đến Trí Huệ Ba La Mật. Không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật tri kiến. Không thể chứng đắc Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. 

Không thể chứng nhập Sơ Thiền nhẫn đến Tứ Thiền. Không thể chứng nhập Niết bàn diệu tâm. Không thể vào sâu vô lượng tam muội, thần thông du hý của chư Bồ tát, nhẫn đến không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi đạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân.

Vì lý do như vậy mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô Thượng Bồ Ðề Tâm. Con khẩn cầu đức Thế Tôn chỉ dạy giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sinh ở thời kỳ cuối cùng của chính pháp.

Trưởng giả Diệu Nguyệt vừa dứt lời thưa thỉnh thì bỗng đại địa chấn động mãnh liệt. Khắp hư không, hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa tuôn rắc như mưa. Từ phương Tây, xuất hiện vô lượng vô số hằng hà sa đám mây ngũ sắc, mây chiên đàn hương, mây y phục cõi trời, mây âm nhạc cõi trời, mây hoa sen báu trắng bạch v.v... Trong những đám mây ấy phát ra tiếng sấm lớn, đồng một lúc chầm chậm bay về, nhóm lại phía trên đỉnh núi Kỳ Xà Quật. Tất cả đại chúng đều vui mừng, hớn hở, tự biết ấy là điềm lành chưa từng có. 

Bấy giờ, quốc mẫu Vi Đề Hy hoàng thái hậu từ trong đại chúng, bước ra trước Phật đảnh lễ xong, bèn chắp tay thưa:

Bạch đức Thế Tôn, vì duyên cớ gì mà hiện điềm lành này?

Liền khi ấy, đức Như Lai từ nơi tướng lông trắng chặng giữa chân mày phóng ra hào quang chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương mà nói lời này:

Lành thay! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân! 

Nay Ta vì lời thưa thỉnh của Ưu bà tắc Diệu Nguyệt và của Ưu bà di Vi Đề Hy, lại nương theo bản nguyện của vô lượng vô số bất khả thuyết chư Phật mà tuyên dương giáo nghĩa bí mật vi diệu tối thắng đệ nhất nhằm cứu độ hết thảy chúng sinh ở trong thời kỳ Phật pháp cuối cùng. 

Giáo nghĩa này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói, và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sinh đời Mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung được sinh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất Thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A nậu Đa la tam miệu Tam bồ đề.

Này cư sĩ Diệu Nguyệt, hãy chăm chú lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói:

Diệu Nguyệt! Tất cả các loại chúng sinh chết ở nơi đây, rồi sinh sang nơi kia, sống chết nối nhau không dứt. Mỗi khi sắp mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời hiển hiện rõ ràng.

Chúng sinh nào sống thuần bằng tư tưởng(3) thì bay lên hóa sinh nơi các cõi Trời. 

Nếu trong sự thuần tưởng lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sinh về Tịnh độ.

Chúng sinh nào tình ít, tưởng nhiều thì vào hàng phi tiên(4), bay đi nhẹ nhàng nhưng không được xa bằng hạng thuần tưởng.

Chúng sinh nào tình và tưởng bằng nhau thì sẽ phát sinh vào cõi người(5). Bởi vì sao như vậy? Bởi tưởng là thông sáng, tình là mê tối. Nếu tình và tưởng ngang bằng nhau thì không bay lên và cũng không đi xuống.

Chúng sinh nào tình nhiều, tưởng ít thì sẽ lạc vào bàng sinh(6), nhẹ thì làm chim bay, nặng thì làm thú chạy.

Chúng sinh nào có bảy phần tình và ba phần tưởng sẽ bị đọa làm thân ngạ quỷ(7), thường chịu nóng bức, đói khát trải qua trăm ngàn kiếp dài lâu.

Chúng sinh nào có chín phần tình và một phần tưởng thì sẽ đọa vào địa ngục. Nhẹ thì vào nơi địa ngục hữu gián, nặng thì sẽ đọa vào ngục Đại A Tỳ(8). 

Nếu ngoài cái tâm thuần tình ấy còn kiêm thêm các trọng tội như hủy giới cấm của Phật, khinh báng Đại Thừa, thuyết pháp sai lầm, đắm tham của tín thí, lạm thọ sự cung kính, và phạm vào thập ác, ngũ nghịch thì sẽ chiêu cảm quả báo luân chuyển sinh về các ngục Vô Gián(9) ở khắp mười phương.

Này Diệu Nguyệt cư sĩ! Trong thời kỳ Chính Pháp diệt tận, chúng sinh nơi cõi Diêm Phù Ðề tình nhiều tưởng ít, tâm địa bỏn sẻn, tham lam ghét ganh, các căn lành phước báo kém cỏi. Lúc sinh tiền thọ nhận đủ loại nghiệp dữ, sau khi mạng chung sẽ chịu các quả báo đau khổ trong ba nẻo ác dữ với hạn kỳ lâu dài. 

Vì thế mà chư Phật khắp mười phương xót thương vô cùng, luôn luôn tìm cách cứu trừ khổ não cho các hạng chúng sinh kia. Các đức Như Lai hiện ra nơi đời, mục tiêu chân chính là không chỉ tuyên dương diệu pháp bí áo sâu xa cho những bậc thánh giả, hiền nhân mà mục tiêu khẩn thiết nhất vẫn là nhằm cứu vớt các loại chúng sinh tội khổ, nặng về tình, nhẹ về tưởng. 

Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sinh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sinh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sinh khởi chẳng rời sát na tâm sinh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát na tâm sinh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sinh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp Niệm Phật. 

Diệu Nguyệt cư sĩ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cực lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Ðẳng tam muội(10) của đức A Di Đà được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ Tây Phương; vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn sinh tử luân hồi. Đó gọi là quả vị Bất Thối Chuyển. Từ lúc ấy nhẫn đến về sau vượt qua Thập Ðịa, chứng Vô Thượng Giác(11).

Diệu Nguyệt nên biết, đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất(12) mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sinh. Đây thật là môn tu thích đáng, khế hợp mọi căn cơ mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết bàn tại thế, thành Phật trong một đời(13). Đây là môn tu đại oai lực, đại phước đức mà chư Phật giúp chúng sinh vượt thắng thân phàm phu mà thâm nhập cảnh giới chân thường(14).

Đây là môn tu đại Bát Nhã(15), đại Thiền Ðịnh(16) mà chư Phật dùng làm thuyền bè đưa hết thảy chúng sinh qua thấu bờ bên kia, không còn sinh già bệnh chết, hoàn toàn hưởng dụng pháp lạc.

Đây là môn tu đại trang nghiêm, đại thanh tịnh mà chư Phật dùng để đưa hết thảy chúng sinh vào giới luật, nhiếp chúng sinh vào oai nghi, an ổn khoái lạc(17).

Đây là một môn tu đại nhu hòa, đại nhẫn nhục mà chư Phật giúp hết thảy chúng sinh tự tại giữa khổ và vô thường mà thành tựu Tri Kiến Phật(18).

Đây là môn tu đại Bồ Ðề, đại siêu việt mà chư Phật dùng làm cứu cánh để giúp hết thảy chúng sinh thành Phật như Phật ngay trong một kiếp(19).

Đây là môn tu đại từ bi, đại dũng mãnh mà chư Phật dùng để giúp chúng sinh có được cái tâm bằng tâm chư Phật, có được cái nguyện bằng nguyện chư Phật, mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng pháp thân từng phần(20).

Lại nữa, trong quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng chỉ dùng một pháp Niệm Phật này để độ khắp chúng sinh. Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa Niệm Phật này để rộng cứu vớt chúng sinh.

Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sinh thì cũng phải do nơi pháp Niệm Phật này. Do đó mà Như Lai bảo rằng Niệm Phật là vua của tất cả các Pháp(21).

Này Diệu Nguyệt cư sĩ, hãy một lòng tin nhận lời dạy của Như Lai. Hãy ghi nhớ kỹ lời dạy của Như Lai. Hãy thực hành theo lời dạy của Như Lai, và hãy chứng đắc pháp nhẫn tối tôn, tối diệu, đệ nhất này mà Như Lai đã ban cho.(22)

Vì sao vậy? Vì pháp của Như Lai là chân thật, là giải thoát, là an vui, là thuận theo sở cầu, sở nguyện của mọi chúng sinh. Vì pháp của Như Lai là vắng lặng, không dính mắc, vô cấu nhiễm, thuận theo tình và tưởng của chúng sinh mà vẫn giúp chúng sinh thành tựu địa vị Phật Đà, không bị hư hoại, cho nên chẳng cần phải chán ghét lìa bỏ thế gian, ở trong chỗ ràng buộc mà tâm vẫn tự tại, thọ dụng pháp lạc; và sau khi lâm chung được sinh về cõi Phật A Di Đà(23).

Các bạn đồng tu thân mến,

Lại nữa, chúng ta nếu mở các kinh này ra, dù kinh này có nhiều người dịch sang tiến Việt khác nhau nhưng đều với nội dung là như vậy. Qua đoạn kinh văn trên, chúng ta đã thấy rõ ràng kinh này được khiển dương từ kim khẩu Phật, lại có các chư đại Bồ tát tới dự nghe pháp và cả các vị chư Thiên, Thành Thánh đến nghe và chúng minh mà lại có vị giám nói xuyên tạc kinh này xuất hiện sau mấy trăm năm khi Phật Nhập diệt. Thật là hết chỗ nói luôn, cho dù là vô tình hay cố ý thì đó cũng là tội phỉ báng chính pháp đấy. Xin quý vị hãy thận trọng nhé.

Phật tử ai cũng biết rất rõ hiện nay có trên 89% phật tử tu theo pháp môn Tịnh độ vì pháp môn này phù hợp với khế cơ, hoàn cảnh của đa số mọi người, lại tiện giáo dễ dàng thực hành.

Lại nữa, kinh điển đã được dịch sang tiếng Việt, họ đều có học, biết đọc biết viết, đã phần đã phổ cập trung học, đó chưa kể có rất nhiều người là kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chứ không phải là mù chữ nên đọc kinh điển, họ biết rõ chân tướng thật hư, đúng sai cho nên quý vị không thể nói vô căn cứ như vậy. Phật tử tu dù là tại gia theo pháp môn Tịnh độ, nhưng họ cũng rất tinh tấn biết giữ giới luật, chăm chỉ nghiên cứu kinh điển nên biết rõ chân tướng thật hư và họ chỉ ủng hộ các vị chân tu giữ giới, chăm lo hoằng dương Phật pháp nên những người giả sư tăng ni, những hàng tăng thượng mạn không giữ giới khó có thể lừa dối họ. Họ làm như thế để lung lay lòng tin của họ vào pháp môn Niệm Phật mà đức Thích Ca Mâu Ni đã thương xót cho chúng ta. 

Sau cùng, dù họ tâm bất chính, nhưng chúng tôi xin thành tâm mong các quý vị này là đã trót phỉ báng xuyên tạc chính pháp và cả những người biết mà vui theo thì giới nhà Phật dạy cũng là phạm phải một trong 10 trọng tội sẽ bị đọa vào địa ngục A Tỳ khó có ngày ra đó. Trong các giáo lý các vị sư Tổ đã nói: “tu cho đến khi vào địa ngục thì thôi” là chỉ về hoàn cảnh của các vị mắc các tội này. 

Đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều do Phật nói ra, cho nên người phật tử chân chính dù tu pháp môn nào thì cũng phải nên coi trọng. Xin hãy cẩn trọng! Cẩn trọng khỏi sa hố ấn hận không kịp. 

Cư sĩ Quảng Tịnh

Ý kiến phản hồi









 Refresh