Cập nhật lúc 13:49 19/03/2018 (GMT+7)

Tham luận của Phật giáo Thanh Hóa tại Đại hội PG Toàn quốc lần thứ VIII

(PGVN)

Bước sang đầu thế kỷ XXI, thế giới dường như trở thành một ngôi nhà chung có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Mọi tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đều ảnh hưởng tới nhau. Nếu cứ khư khư ôm lấy những truyền thống vẻ vang huy hoàng trong quá khứ mà không có tư duy sáng tạo, cách tân đổi mới thì Phật giáo cũng sẽ bị tụt hậu không đóng góp được gì nhiều cho nhân sinh và Tổ quốc. Đó chính là nguyên do đoàn Đại biểu Phật giáo tỉnh Thanh Hóa lựa chọn chủ đề “Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Những thành tựu, thời cơ, thách thức và giải pháp để phát triển bền vững” để trình bày trước Đại hội.

Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Những thành tựu, thời cơ, thách thức và giải pháp để phát triển bền vững

Nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam không thể không nói đến Phật giáo Việt Nam và ngược lại nói đến Phật giáo Việt Nam không thể không nói đến lịch sử dân tộc. Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã trên 2.000 năm và cùng với thời gian ấy, Phật giáo sớm hòa quyện với văn hóa dân tộc Việt, tạo nên một bản sắc văn hóa đậm đà, luôn gắn bó và đồng hành cùng dân tộc.

Từ thời Lý, Trần, Phật giáo đã giữ vai trò là tôn giáo chủ đạo (Quốc giáo), chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Đặc biệt với việc ra đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thời Trần đã tạo nên một Phật giáo Việt Nam khác hẳn với các tông phái khác trên thế giới. Cho đến nay, Phật giáo vẫn tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp của mình trong nhiều mặt của đời sống xã hội hiện đại.

Bước sang đầu thế kỷ XXI, thế giới dường như trở thành một ngôi nhà chung có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Mọi tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đều ảnh hưởng tới nhau. Nếu cứ khư khư ôm lấy những truyền thống vẻ vang huy hoàng trong quá khứ mà không có tư duy sáng tạo, cách tân đổi mới thì Phật giáo cũng sẽ bị tụt hậu không đóng góp được gì nhiều cho nhân sinh và Tổ quốc. Đó chính là nguyên do đoàn Đại biểu Phật giáo tỉnh Thanh Hóa lựa chọn chủ đề “Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Những thành tựu, thời cơ, thách thức và giải pháp để phát triển bền vững” để trình bày trước Đại hội.

Kính thưa quý vị Đại biểu
Kính thưa Đại hội,

Sau chiến thắng năm 1975, nước nhà được độc lập, thống nhất, sau khi 9 tổ chức, hệ phái thống nhất trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đã bước sang trang sử mới, phát triển trong tình hình mới, điều kiện mới và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.
 
I. Những thành tựu căn bản mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được trong các nhiệm kỳ qua

Từ năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 7 kỳ Đại hội, mỗi kỳ Đại hội cơ cấu tổ chức và nhân sự đều được củng cố và kiện toàn để đáp ứng nhu cầu hoạt động phật sự trong tình hình mới. Hoạt động phật sự phong phú của các Ban, Viện đều đạt kết quả tốt. Hoạt động tăng sự ổn định và mở rộng tới tất cả các tỉnh, thành phố có tổ chức của Giáo hội. 

Công tác Giáo dục đào tạo tăng, ni đã khởi sắc, mở rộng quy mô và loại hình đào tạo với 4 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.Hà Nội, Huế, Tp.HCM và Cần Thơ cùng 30 trường Trung cấp Phật học tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác hoằng pháp được mở rộng và đi vào chiều sâu dành cho phật tử. Công tác nghiên cứu Phật học ngày càng được phát huy, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu đạo Phật của tăng, ni, phật tử và các nhà khoa học. 

Công tác Phật giáo quốc tế không ngừng được mở rộng nhằm thắt chặt tình hữu nghị và hợp tác giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam với các tổ chức Phật giáo trong khu vực và trên thế giới. 

Giáo hội tham gia nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về tôn giáo, đóng góp hoạt động của mình vào thành công chung của các hội nghị. Công tác nghi lễ cũng có nhiều khởi sắc nhất là những năm gần đây, Đại lễ Phật đản thực sự trở thành ngày hội của Phật giáo Việt Nam, của người phật tử Việt Nam. Lễ hội Phật giáo mang tính nhân văn sâu sắc với tinh thần kỷ niệm đức Phật là một nhà văn hóa lớn của nhân loại.

Hiện nay cả nước có khoảng 50.000 tăng, ni, trên 17.000 cơ sở thờ tự và trên 12 triệu tín đồ phật tử có điệp Quy y, hàng chục triệu đồng bào yêu mến và tin quý đạo Phật đang sinh hoạt tại các hội quy, đạo tràng các tự viện; trong đó Phật giáo Thanh Hóa có 271 ngôi chùa với 162 tăng, ni và hàng trăm nghìn tín đồ phật tử.

Phật giáo là tôn giáo có đông tín đồ nhất trong các tôn giáo tại Việt Nam, Phật giáo cũng là tôn giáo có lịch sử phát triển lâu đời nhất tại Việt Nam. Đặc biệt hơn, Phật giáo Việt Nam có truyền thống “hộ quốc an dân”, “đồng hành cùng dân tộc” qua các thăng trầm và biến cố của lịch sử, nên văn hóa Phật giáo thấm nhuần với nền văn hóa dân tộc, nó có vai trò cộng sinh và tương hỗ cấu thành nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Với truyền thống gắn đạo với đời, đạo pháp với dân tộc, Phật giáo đã tham gia vào nhiều hoạt động xã hội như: Cứu giúp người nghèo, người cô đơn cơ nhỡ, nuôi dạy trẻ mồ côi… Phật giáo Việt Nam ngày càng khởi sắc không chỉ ở số lượng và quy mô các lễ hội, ở việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo cơ sở thờ tự mà còn ở việc nâng cao sự nhận thức về Phật học và thế học cho các tăng ni, ở việc tổ chức các hội thảo về Phật giáo trong lịch sử và hiện tại.

Đặc biệt nhiệm kỳ vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã xây dựng được một số chùa tại các đảo Trường Sa, Sinh Tồn, Song Tử Tây. Những ngôi chùa mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc Việt Nam. Giáo hội Phật giáo Viêt Nam đã cử một số vị sư ra đảo trụ trì phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cho bà con trên đảo cũng như cán bộ, chiến sĩ và ngư dân thường qua lại, góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo quốc gia, dân tộc.

Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động phật sự đạt hiệu quả: Trong quá trình xây dựng và phát triển, có thể điểm qua những thành tựu đổi mới cơ bản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như: Năm 2012, tại Đại hội lần thứ VII, Giáo hội đã tiến hành tu chỉnh Hiến chương với nhiều nội dung mới và quan trọng. Hiến chương được tu chỉnh có 13 chương, 71 điều. Hiến chương V đã có nhiều thay đổi quan trọng liên quan đến cơ cấu, tổ chức trong hệ thống Giáo hội. Hệ thống Giáo hội cấp Trung ương từ sau Đại hội có 12 Ban và 01 Viện, tăng thêm 3 ban (Ban Truyền thông, Ban Pháp chế, Ban Kiểm soát), so với nhiệm kỳ trước. 

Bên cạnh đó điểm mới của Hiến chương V là danh xưng của các cấp Giáo hội. Theo đó, danh xưng của các cấp đã được gọi thống nhất “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Tỉnh, Thành phố (hoặc quận, huyện,...) và là cơ quan hành chính, điều hành, quản lý trực tiếp mọi mặt hoạt động phật sự của cấp đó đều được gọi là “Ban Trị sự” (từ Đại hội VI Giáo hội Phật giáo có cấp hành chính thứ 3 là cấp quận, huyện, thị xã).

Đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt Phật giáo cho bà con kiều bào, Giáo hội đã công nhận 08 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước châu Âu như: Cộng hòa Liên bang Nga, Đức, Séc, Hungari, Ba Lan, Ucraina, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã 2 lần đăng cai và tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc vào các năm 2008 tại Hà Nội và 2014 tại chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình. Qua việc tổ chức Đại lễ Phật đản, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có dịp giới thiệu hình ảnh, hoạt động văn hóa, kiến trúc Phật giáo Việt Nam đến bạn bè thế giới, góp phần nâng cao vị thế không chỉ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn của cả đất nước trên trường quốc tế.
 
Công tác giáo dục tăng ni, phật tử được quan tâm, chú trọng: các hội thảo giáo dục như Hội nghị chuyên đề Giáo dục Phật giáo, Hội nghị của 04 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, tổ chức Hội thảo giáo dục Phật giáo toàn quốc tại Hà Nội, các trường lớp của Phật giáo Nam tông, gần đây có Hội thảo Tăng Ni trẻ với việc xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, góp phần xây dựng đất nước.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp cũng đang tích cực góp ý vào Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo mà các cơ quan soạn thảo của Nhà nước đang trình để lấy ý kiến đóng góp của các tôn giáo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tích cực triển khai tìm hiểu và góp ý thông qua tất cả các cấp, góp ý qua các lần lấy ý kiến của Ban soạn thảo, qua kênh của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, qua kênh lấy ý kiến của các tổ chức trực thuộc các cấp. Bằng cách đó, thêm một lần nữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam quan tâm đến khuôn khổ pháp lý của Nhà nước để tạo hành lang hoạt động của đạo Phật cũng như của các tôn giáo nói chung trên tinh thần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.

II. Thời cơ và thách thức

Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua là rất to lớn, mặt khác Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang đứng trước những thời cơ, vận hội và thách thức mới đang gặp phải trong giai đoạn hiện nay.

1. Thời cơ, vận hội:

1.1. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật giờ đây đã chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng và triết lý Phật giáo. Khẳng định khả năng đi trước và tư duy của Phật giáo phù hợp với khoa học. Đây là điều đặc biệt quan trọng để nhân loại tiến bộ lựa chọn Phật giáo là tôn giáo gần gũi, phù hợp với đời sống của đại đa số nhân loại trong thời đại mới.

1.2. Sự mất cân bằng trong thế giới hiện tại mà nguyên nhân do chính con người tạo ra, đã đặt con người trước những thảm họa, khổ đau,… đang là minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn của tư tưởng cân bằng và triết lý nhân quả mà Phật giáo đã nêu ra cách nay trên 2500 năm. Thiên tai, dịch bệnh, xung đột, chiến tranh, sự băng hoại về đạo đức lối sống hiện đại,… đang đặt con người trước sự lựa chọn một tôn giáo để điều chỉnh tư tưởng cực đoan, điều chỉnh hành động thái quá của con người, trả con người về lại trạng thái cân bằng trong an lạc, hạnh phúc. Và chính tôn giáo được nhân loại tiến bộ hướng tới đó là Phật giáo.

1.3. Từ năm 1999, Đại Hội đồng Liên hợp quốc Quyết nghị chọn ngày tam hợp đức Phật làm ngày Văn hóa thế giới: Quyết nghị đã thể hiện bằng hành động rất cụ thể là vào dịp trăng tròn tháng tư hàng năm tại trụ sở Liên Hiệp quốc và các Trung tâm Liên Hiệp quốc trên thế giới đồng thời diễn ra lễ Vesak (Lễ tam hợp đức Phật -  Lễ Phật Đản sinh, Phật thành đạo, Phật nhập diệt). Quyết nghị ấy đã tạo cho Phật giáo những cơ hội rất lớn trước lịch sử nhân loại.

2. Khó khăn và thử thách:

2.1. Phật giáo ra đời trước nhiều tôn giáo, nhưng số lượng tín đồ và khả năng phổ quát trên diện rộng khá khiêm tốn. Do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân dễ nhận thấy là tính ít năng động, rập khuôn của Phật giáo đã tồn tại từ rất lâu cho tới tận ngày nay.

2.2. Nhu cầu của xã hội về ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo là rất lớn. Song Phật giáo thiếu một tổ chức chặt chẽ, thiếu sự hướng dẫn đồng bộ, thiếu hành động nhất quán trên phạm vi rộng lớn, bởi vậy chưa tạo được ảnh hưởng trong phạm vi và thời gian như mong muốn.

2.3. Triết lý và tư tưởng Phật giáo rất khoa học và phù hợp với sự phát triển của xã hội tiến bộ. Song phần lớn đang được thể hiện dưới dạng kinh sách khó đọc, khó hiểu với số đông, ít được phổ thông hóa để truyền tải đến nhiều người. Trong khi nhiều tôn giáo đang cố gắng đơn giản hóa kinh điển giáo lý đến mức tinh giản nhất.

Phật giáo Việt Nam không nằm ngoài những vấn đề chung của Phật giáo thế giới. Trước thực trạng về thách thức và cơ hội của Phật giáo nói chung, Phật giáo Việt Nam cần có những điều chỉnh để phát huy cơ hội và khắc phục thách thức. Từ việc củng cố tổ chức bộ máy hành chính đạo các cấp, tới việc nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan chuyên môn.

Trước những đòi hỏi của hội nhập và phát triển, xu hướng đổi mới trong Phật giáo không thể không đặt ra, vấn đề truyền thống và hiện đại trong việc tu chứng, hành đạo, trong việc hoằng dương Phật pháp, trong công việc hành chính đạo… cũng đang là một thách thức đối với Phật giáo Việt Nam hiện nay. Do vậy, tin rằng Phật giáo sẽ hóa giải tốt những mâu thuẫn này để ngày càng ổn định và phát triển nhưng vẫn giữ được căn cốt của Phật giáo Việt Nam để đóng góp nhiều hơn nữa đối với dân tộc, với nhân loại và chúng sinh, bởi phục vụ chúng sinh chính là thiết thực cúng dường chư Phật.

Kính thưa quý vị Đại biểu!
Kính thưa Đại hội!

Trên đây là một số đánh giá cơ bản những thành tựu và đổi mới mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã và đang thực hiện, trong đó có việc Giáo hội nắm bắt được các cơ hội thuận lợi và nhận diện được những thách thức khó khăn; Chúng tôi mạnh dạn đề xuất những giải pháp để nâng cao vị thế của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, phát triển để có nhiều đóng góp hữu ích vào sự nghiệp đại đoàn kết các dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước.

III. Các nhóm giải pháp
1. Nhóm giải pháp trong công tác lãnh đạo, điều hành của Trung ương Giáo hội

1.1. Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam với vai trò là cơ quan chỉ đạo điều hành cấp cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần tăng cường khẳng định vị thế của mình, muốn đạt được điều này đòi hỏi bộ máy của Giáo hội không ngừng củng cố và hoàn thiện. 

Trung ương Giáo hội không những bao gồm những Tôn túc Giáo phẩm có đạo hạnh và năng lực, có vốn kiến thức xuất chúng về Phật pháp, mà còn phải là những bậc dám dấn thân cho hoạt động phật sự vì ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Củng cố xây dựng một bộ máy mạnh từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo cho hoạt động của Giáo hội được thống nhất và đạt hiệu quả toàn diện.

1.2. Để có thể giúp Giáo hội phát triển một cách bền vững thì nhân tố con người là yếu tố quan trọng nhất. Xây dựng một nền giáo dục và đào tạo tăng ni vững mạnh là bổn phận của tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của Phật giáo. Người tu sĩ Phật giáo cần phải được giáo dục và đào tạo để xứng đáng với chức năng cao cả đó. Nhiệm vụ đào tạo những người có đủ phẩm chất trên hai khía cạnh: Về trình độ là có thế học, Phật học và về nhân cách phẩm hạnh của một con người, một tu sĩ.

Việc nâng cao nhận thức, tầm nhìn, đào tạo năng lực cho một thế hệ tăng ni trẻ, đủ sức gánh vác nhiệm vụ mà thời đại đặt ra cho Giáo hội trong tương lai là việc làm có tính cấp thiết. Việc giáo dục đào tạo tăng ni nên có một chiến lược bài bản hơn. Đó là quá trình đào tạo, nên gắn với chiến lược sử dụng sau này; Giáo hội cần xây dựng một lộ trình, một chiến lược cụ thể về việc đào tạo ở trường nào, cụ thể ra sao? Trong vấn đề này khi đã có kế hoạch cụ thể, Giáo hội nên có sự hỗ trợ một phần kinh phí cho các tăng ni học tập để gắn trách nhiệm với việc sử dụng sau này.

1.3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần tiếp tục tăng cường phối hợp với các Bộ, Sở, Ban ngành trong nước và các tổ chức ở ngoài nước, tổ chức nhiều buổi tọa đàm, hội thảo bàn về các vấn đề liên quan đến công tác phật sự; qua các cuộc hội thảo, nhiều thách thức, giải pháp mới được nêu ra, được bàn bạc, trao đổi và cùng nhau giải quyết. Đó chính là biện pháp hữu hiệu giúp cho Giáo hội luôn thể hiện được vai trò của mình trước yêu cầu của thời đại.

Bên cạnh đó, tăng cường trách nhiệm và vai trò của các chức sắc tôn giáo đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phải có cách làm sáng tạo, phù hợp trong thực hiện các mô hình phong trào để phát huy vai trò tích cực của chức sắc trong vận động quần chúng tín đồ, thực hiện chính tín, bài trừ mê tín dị đoan, tích cực tham gia đấu tranh, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương, tôn nghiêm nơi của Phật.

1.4. Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, với ¾ là diện tích đồi núi, còn rất nhiều ngôi chùa, tự viện miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần một vị tăng già trụ trì tại địa phương để hướng dẫn tu học, hoằng pháp. Thiếu một vị tăng già, không khí tu học sẽ trở nên lệch lạc. 

Quan tâm và phát triển Phật giáo đối với đồng bào tôn giáo, vùng sâu vùng xa hiện là việc làm cần thiết, đặt ra đối với Giáo hội, cần phải có cơ chế khuyến khích chọn lựa và đề cử tăng sĩ đã tốt nghiệp các khóa học về trụ trì các chùa làng nơi xa xôi hẻo lánh chưa có trụ trì. Giáo hội Phật giáo cấp tỉnh, thành nên thường xuyên thăm hỏi, động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các vị tăng sĩ trụ trì an tâm hành đạo.

1.5. Để phát huy tốt hơn nữa vai trò và vị thế của Phật giáo Việt Nam đối với dân tộc trong bối cảnh hiện nay, thiết nghĩ Phật giáo cần phải có sự quan tâm nhiều hơn, có hiệu quả hơn tới việc trang nghiêm Giáo hội và sự tôn trọng các sơn môn pháp phái. Bởi lẽ, không có sự quản lý chặt chẽ của Giáo hội mà trực tiếp là Hội đồng Trị sự thì sẽ dẫn tới những lệch lạc trong tu hành, trong sự thống nhất chung của Phật giáo; song nếu xem nhẹ sơn môn pháp phái sẽ làm cho Phật giáo mất đi tính truyền thống lịch sử, làm phai mờ mối dây gắn kết của mỗi sơn môn và những đặc thù của sơn môn, điều này có thể làm cho Phật giáo mang nặng tính hành chính, tính hình thức.

2. Nhóm giải pháp đối với chư Tôn đức tăng ni

Trong giai đoạn hiện nay, để có một Giáo hội Phật giáo Việt Nam vững mạnh hơn, đồng nghĩa với việc chúng ta cần phải có một đội ngũ tăng ni trẻ hùng hậu, những người luôn luôn mến đạo, yêu đời, yêu quê hương đất nước. Để xứng đáng là lớp kế thừa tốt đẹp nhất của Giáo hội, hàng ngũ tăng ni chúng ta cần phải luôn giữ thân tâm trong sạch, đạo đức trong sáng trong tinh thần bất vụ lợi, không đắm say thế lợi. Tích cực hành động cho những điều tốt đẹp của dân tộc, nhân loại và Phật giáo Việt Nam.

Chư Tôn đức tăng ni chúng ta phải luôn tư duy, trăn trở, phải sẵn sàng và chấp nhận xả thân cho đạo, cho đời. Phải biết liên kết nhân tâm, mang lại sự an lạc, giảm đau khổ, bất hạnh cho con người trong xã hội. Điều quan trọng hơn nữa là tăng ni phải biết đem sức mạnh Phật pháp vào công tác giáo dục trong kỷ nguyên mới để phật tử và người dân có niềm tin cao và luôn hướng tâm tới đạo Phật. Để làm được như vậy, tăng ni chúng ta phải ra sức tự giác học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ tri thức, nhất là phần kinh điển phải thông hiểu, sẵn sàng chia sẻ và giải đáp khi một phật tử có yêu cầu tìm hiểu các sự việc có liên quan trực tiếp đến phần giáo điển.

3. Nhóm giải pháp đối với hoạt động của phật tử

Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam không phải chỉ là của hàng tu sĩ, thậm chí việc chúng ta có được Giáo hội phát triển như ngày hôm nay cũng là vì mục đích phục vụ số đông phật tử. Số lượng phật tử chính là sự phản ánh sức sống của Giáo hội, sự tồn tại của tăng già. Vì thế:

- Giáo hội Phật giáo phải không ngừng truyền bá Phật pháp để ngày càng tăng trưởng số lượng phật tử, ngày càng có nhiều người biết đến Phật pháp. Bên cạnh đó, phải làm sao cho người phật tử không chỉ tin theo một cách đơn giản mà phải có kiến thức, có sự hiểu biết để đức tin cắm rễ chắc bền trong phật tử. Chính đức tin đó đảm bảo cho Giáo hội, cho đạo Phật phát triển một cách bền vững hơn.

- Chú trọng và tăng cường chương trình thuyết pháp cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Dấn thân đến hành đạo nơi vùng sâu vùng xa phải đối diện với nhiều khó khăn: ngôn ngữ, phong tục tập quán, cơ sở vật chất, kinh sách, phương tiện và làm sao khiến từ Không trở thành Có, từ Ít trở thành Nhiều và phổ biến. Thế nên, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo cấp tỉnh, thành cần có kế hoạch một cách chu đáo, công phu, khuyến khích trợ duyên, kể cả hỗ trợ tài chính cho các đối tượng là tăng ni, phật tử trẻ đến truyền bá Phật giáo tại vùng sâu vùng xa… 

Những nơi ổn định hơn, những chùa có điều kiện nên thương tưởng trợ giúp các dự án phật sự mang lợi lạc và truyền bá ánh sáng Phật pháp đến những nơi thiệt thòi và khó khăn để cho ánh sáng Phật pháp lan tỏa khắp nơi.

Kính thưa Đại hội,

Trước khi dừng lời, thay mặt đoàn Đại biểu tỉnh Thanh Hóa tôi xin kính chúc chư Tôn đức, quý vị Đại biểu tăng ni, quý liệt vị thân tâm thường lạc, vạn sự cát tường. Chúc Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII thành công viên mãn!

Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thanh Hóa
Tham luận tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc lần thứ VIII 

Ý kiến phản hồi









 Refresh