Cập nhật lúc 18:06 29/04/2017 (GMT+7)

Chú giải kinh Nhân Quả Phước Đức (P.1)

(PGVN)

Biết ơn và đền ơn là giáo lý nền tảng của người phật tử chân chính, khi thọ ơn ai dù là một việc nhỏ cũng không bao giờ quên. Người thế gian gọi đó là người tốt, người sống có tình có nghĩa, ngược lại khi thọ ơn ai mà vờ làm lơ có khi còn đối xử tệ bạc với người ơn của mình nữa, thế gian gọi đó là kẻ tiểu nhân, là người vong ơn bội nghĩa.

Biết ơn và đền ơn
 
Việc làm phước và thanh lọc nội tâm rất cần thiết cho hàng phật tử chúng ta, tùy theo hoàn cảnh của mọi người mà chúng ta biết cách áp dụng sau cho phù hợp để phước và đức của tự thân ngày càng được tăng trưởng.

Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.

Từ xưa nay có nhiều chuyện thật là trái ngang như vậy, rất hiếm có những người con nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ lo từ vật chất cho đến tinh thần. Vậy mà có người mới vừa nuôi cha mẹ một chút đã kể công đủ thứ hoặc tệ hại hơn tìm cách tránh né trách nhiệm bổn phận làm con. Thật tế trong cuộc sống con bỏ cha mẹ thì nhiều chứ ít có cha mẹ nào bỏ con. Đức phật của chúng ta là một người con đại hiếu, sau khi thành đạo Ngài đã dùng thần lực lên cõi trời Đao Lợi để hướng dẫn cho mẹ mà chỉ dạy pháp giác ngộ và giải thoát. Đến khi vua cha bệnh nặng ngài về khai thị để cha được chứng quả thánh và chính ngài đích thân gánh kim quan của cha đi thiêu mà làm gương cho nhân loại.

Trong các bản kinh ngài thường dạy các thiện nam tín nữ ngoài việc lo chăm sóc chu đáo về mọi mặt, khuyên cha mẹ quy y Tam bảo hoặc xuất gia tu hạnh giác ngộ và giải thoát, đây mới là người con đại hiếu. Biết ơn và đền ơn là giáo lý nền tảng của đạo Phật nên trong kinh nhân quả ba đời Phật dạy người phật tử chân chính trước tiên phải biết hiếu dưỡng cung kính đối với cha mẹ, sau đó rồi mới quý kinh tôn trọng Tam bảo, kế đến là bố thí cúng dường phóng sinh giúp người cứu vật và cuối cùng ăn chay làm lành lánh dữ.

Một con người nếu không biết hiếu thảo đối với cha mẹ, thì khó mà làm ăn thành đạt được vì ơn nghĩa hai đấng sinh thành mình còn chối bỏ thử hỏi người đó có bao giờ sống tốt với tha nhân được không? Đối với cha mẹ mình mà ta còn làm ngơ không chút thương xót, không biết hiếu nghĩa, hiếu kính, hiếu hạnh, hiếu tâm. Một người như thế thì việc ác nào cũng có thể làm, thì thử hỏi làm sao mà họ tín kinh Tam bảo được. Nếu vậy thì làm sao họ có tâm giúp người cứu vật mà làm lành lánh dữ. Một con người không có những chất liệu trên nếu có sống chẳng giúp ích gì được cho ai, ngược lại còn làm tổn hại cho nhân loại.

Ơn nghĩa trong cuộc sống

Biết ơn và đền ơn là giáo lý nền tảng của người phật tử chân chính, khi thọ ơn ai dù là một việc nhỏ cũng không bao giờ quên. Người thế gian gọi đó là người tốt, người sống có tình có nghĩa, ngược lại khi thọ ơn ai mà vờ làm lơ có khi còn đối xử tệ bạc với người ơn của mình nữa, thế gian gọi đó là kẻ tiểu nhân, là người vong ơn bội nghĩa. Vậy cuộc sống này biết ơn và đền ơn là nền tảng đạo đức sống của nhân loại, cho nên ơn nghĩa là cái gốc của đạo làm người. Con cái luôn hiếu kính với cha mẹ vì biết ơn mang nặng đẻ đau, sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, học trò quý kính thầy cô chăm chỉ học hành vì biết ơn thầy cô.

Trong cuộc sống Phật thường nêu lên bốn ơn để khuyên nhủ và răn dạy mọi người, nhất là ơn cha mẹ thật là cao cả. Sự sống của chúng ta ai là người con hiếu kính thì ăn nên làm ra công thành danh toại, chứ ít khi có người con nào bất hiếu mà làm nên sự nghiệp. Đa số người con bất hiếu đều dính vào vòng tệ nạn xã hội, cha mẹ mình mà còn không biết ơn nghĩa, thử hỏi làm sao mở rộng tấm lòng giúp đỡ người khác. Do đó người con bất hiếu luôn thất bại trong cuộc sống, mà thường xuyên bị cạm bẫy cuộc đời cuốn trôi nên sống trong đau khổ làm mê. Phật dạy niềm vui của bậc hiền Thánh là biết hiếu kính với cha mẹ, nhiều người không hiểu cứ nghĩ rằng cúng dường cho người tu là có phước, nên nghe đồn ở đâu có linh ứng một chút thì đùng đùng kéo đến để cúng dường bỏ mặc cha mẹ mình ở nhà chịu khổ sở thiếu thốn, tu như vậy là đi ngược lại lời Phật dạy. Trên đời này ai còn đủ mẹ cha là một điều thật hạnh phúc lớn lao, vì ta còn có cơ hội báo hiếu chăm lo phần vật chất lẫn tinh thần, giúp cha mẹ an vui trong tuổi già nhờ biết quy hướng Tam bảo. Người con hiếu trước tiên phải biết vâng lời và kính trọng cha mẹ cho nên ca dao có câu:

“Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”.

Do đó, thương cha mến mẹ con làm, không sợ tốn kém không nề gian nan. Công cha nghĩa mẹ khó đền, vào thưa ra hỏi mới là đạo con. Biết quan tâm lo lắng giúp đỡ để cho cha mẹ được an vui và một lòng tôn kính quý trọng. Kinh Bổn sự Phật dạy:

Giả sử có một người nào một vai cõng cha, một vai cõng mẹ, suốt đời không bao giờ dừng nghỉ, lại còn cung cấp cho cha mẹ đầy đủ các thức ăn, vật dụng thuốc thang đến trăm ngàn kiếp cũng không thể trả hết công ơn của cha mẹ. Còn nếu, khuyên cha mẹ biết quy y Tam bảo giữ gìn năm điều đạo đức không làm tổn hại cho tất cả chúng sinh, đó là cách báo hiếu cao cả nhất vì giúp cho cha mẹ sống an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Trước đó người dưỡng nuôi thái tữ là dì mẫu muốn xuất gia để sống đời giải thoát, đã xin Phật nhiều lần mà không được chấp nhận. Ngài A Nan mới nhắc lại công ơn nuôi dưỡng thì Phật mới nói rằng, ta đã hướng dẫn cho dì mẫu quy y Tam bảo giữ năm giới cấm, tu mười điều lành như thế là đã trả ơn cho dì mẫu rồi. Nhưng cuối cùng Phật mới cho xuất gia sau nhiều lần khuyến dạy giữ tám điều tôn kính chư Tăng.

Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ phân chia giai cấp thống trị và nô lệ, người nữ không có quyền tham dự vào công việc xã hội, huống hồ là tham gia vào sự tu học của bậc hiền thánh. Và cuối cùng khuyên cha mẹ được xuất gia, đó mới là người con đại hiếu, cha mẹ biết tu hành để chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc. Hôm nay nhân nghĩ đến công khó nhọc của mẹ suốt một đời vì con trẻ, con có chút lòng thành nguyện cầu hồng ân Tam bảo luôn gia hộ cho mẹ ở đời sống kế tiếp cùng tất cả chúng sinh luôn sống với nhau bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.
 
Kinh Phước Đức

Tôi được nghe như vầy, một thời Thế tôn an trú tại thành Xá Vệ, nơi rừng cây Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc. Đêm hôm đó trời đã khuya, bỗng cả khu vườn hiện lên ánh hào quang sáng chói bởi một chư Thiên muốn gặp Phật để tham vấn đạo lý. Sau khi đảnh lễ đức Thế tôn, chư Thiên ngồi sang một bên rồi thưa hỏi rằng: “Chư Thiên cùng nhân loại làm thế nào để được sống bình yên và hạnh phúc? Kính xin Thế tôn chỉ dạy” “Lành thay! Lành thay! Thiên nhân khéo biết cách thưa hỏi, ta sẽ vì ngươi chỉ dạy 10 phương pháp gieo trồng phước đức, để làm lợi lạc cho Trời Người trong hiện tại và mai sau”.

1-Phương pháp thứ nhất là
Luôn gần gũi người hiền
Lánh xa kẻ xấu ác
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất.

2-Phương pháp thứ hai là
Biết chọn môi trường tốt
Để làm các việc lành
Cùng hướng về đường thiện
Là phước đức lớn nhất.

3-Phương pháp thứ ba là
Siêng học lại giỏi nghề
Biết giữ gìn đạo đức
Biết nói lời ái ngữ
Là phước đức lớn nhất.

4-Phương pháp thứ tư là
Biết hiếu dưỡng cha mẹ
Thương yêu gia đình mình
Lại làm nghề thích hợp
Là phước đức lớn nhất.

5-Phương pháp thứ năm là
Sống vui vẻ bố thí
Giúp gia đình người thân
Bình đẳng tùy theo duyên
Là phước đức lớn nhất. 

6-Phương pháp thứ sáu là
Tránh không làm điều ác
Không say sưa, nghiện ngập
Siêng năng làm việc lành
Là phước đức lớn nhất.

7-Phương pháp thứ bảy là
Biết khiêm cung lễ độ
Để học hỏi điều hay
Nhớ ơn và biết đủ
Là phước đức lớn nhất.

8- Phương pháp thứ tám là
Biết kiên trì phục thiện
Thân cận bậc hiền Thánh
Siêng năng cùng tu học
Là phước đức lớn nhất.

9-Phương pháp thứ chín là
Sống tinh cần tỉnh thức
Biết quay lại chính mình
Để sống đời giải thoát
Là phước đức lớn nhất.

10- Phương pháp thứ mười là
Làm việc cùng mọi người
Tâm không hề thay đổi
Não phiền dứt, an nhiên
Là phước đức lớn nhất.

Sau đó Phật xác định bằng một bài kệ:
Ai sống được như vậy
Ở đâu cũng hạnh phúc
An nhiên và tự tại
Vì phước đức vẹn toàn.

Phật vừa dứt lời, chư Thiên và đại chúng đồng hoan hỷ, vui vẻ cùng phát nguyện làm theo.

Chú giải kinh Nhân Quả Phước Đức

Bản kinh Phước Đức ngắn gọn, súc tích, nghĩa lý rõ ràng, có thể đưa vào kinh Nhật Tụng để hàng phật tử chúng ta đọc tụng hằng ngày.

Chúng tôi mạnh dạn đặt lại tên là kinh Nhân Quả Phước Đức để được đầy đủ ý nghĩa hơn. Duyên khởi để Thế Tôn ban pháp thoại này phát xuất từ lời thỉnh cầu của một vị Trời mong muốn biết được cách thức thực hành gieo trồng phước đức, nhằm xây dựng đời sống bình an, hạnh phúc trong hiện tại và mai sau. Chư thiên là loài được xem là có phước đức hơn hết so với các loài trong 6 đường luân hồi sinh tử, mà còn cầu thỉnh đức Thế Tôn nói về cách thức gieo trồng phước đức, để biết cách tích lũy kiện toàn phước báo cho tự thân, huống gì loài người và nhất là hàng hậu học chúng ta.

Kinh là gì? Kinh là lời Phật dạy bằng tiếng Phạn, nói cho đủ là Tu Đa La, người Trung Hoa dịch là Khế kinh. Khế kinh có nghĩa là khế lý và khế cơ. Khế lý là sao? Là luôn đúng với lý giác ngộ, giải thoát của chư Phật, tức là dù trải qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu sự thăng trầm của cuộc sống, nhưng lời Phật dạy vẫn giúp con người biết cách làm chủ bản thân mà vươn lên, vượt qua cạm bẫy cuộc đời để sống bình yên, hạnh phúc. Khế cơ là khế hợp với tất cả mọi người, dù là người cổ xưa hay là người văn minh hiện đại, đều có thể áp dụng tu hành mà chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Ngày xưa, Phật nói kinh tùy theo căn cơ, trình độ và sự hiểu biết của nhiều người, bởi chúng ta huân tập nghiệp nhân không đồng nên Phật nói kinh là tùy bệnh cho thuốc. Chúng ta có nhiều bệnh, Phật có nhiều thuốc, nên ai hợp với thuốc nào thì uống thuốc đó sẽ mau lành và mau hết bệnh. Người nói lại kinh này là thầy A Nan, Ngài là một trong mười vị đệ tử xuất cách nhất thời Phật còn tại thế, thầy có tài nhớ giỏi và nói lại không thiếu một chữ, nhờ có thầy xin Phật mà phái nữ được xuất gia tu học bình đẳng với nam giới. Bài kinh được nói tại Tịnh xá Kỳ Viên, rừng Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc, thành Xá Vệ. Kỳ Đà là tên của Thái tử con vua Ba Tư Nặc, thái tử Kỳ Đà được sinh ra đúng ngày vua Ba Tư Nặc chiến thắng quân giặc phiến loạn. Nhân ngày chiến thắng đó mà đặt tên cho con mình là Kỳ Đà, có nghĩa là chiến thắng.

Tấm gương sáng ngời đại thí chủ cấp cô độc

Cấp Cô Độc là vị đại thí chủ nổi tiếng thời đức Phật. Ngoài việc hộ trì Tam bảo, cúng dường tứ sự cho chư Tăng, ngài còn san sẻ, giúp đỡ cho người bất hạnh vô điều kiện, nên được người đời ban tặng cho danh hiệu Cấp Cô Độc. Ngài cúng dường chư Tăng và giúp đỡ kẻ nghèo khổ bần cùng y như những người thân của mình.

Theo lịch sử, sau khi ngài gặp Phật và có lòng tin lớn đối với Tam Bảo, nên phát tâm mua một miếng đất đẹp xây dựng Tịnh xá để có chỗ cho chư Tăng tu học và hướng dẫn cho mọi người cùng tu theo. Tìm mãi chẳng thấy miếng đất nào vừa ý để xây dựng, chỉ có miếng đất của thái tử Kỳ Đà con vua Ba Tư Nặc là đầy đủ điều kiện đẹp đẽ, hùng vĩ và trang nghiêm. Nhưng thái tử Kỳ Đà là một người giàu có, ông đâu cần tiền bạc để phải bán đất, nên khi Ngài Cấp Cô Độc tới đặt điều kiện mua đất làm Tịnh xá cho Phật, Thái tử nói giá trên trời dưới đất để ông đi tìm chỗ khác mà mua, “nếu ông đủ khả năng lấy vàng trải đầy đất thì ta sẽ bán cho ông”. Không ngờ, lời nói chơi đó đã trở thành sự thật. Sợ Thái tử đổi ý nên sáng hôm sau ông Cấp Cô Độc đã tranh thủ cho người chở đầy các xe vàng đến để lót vào đất. Đang lúc mọi người lót vàng vào đất thì ông mới đứng trầm tư suy nghĩ, thái tử Kỳ Đà tưởng ông thối Bồ Đề Tâm nên mới đến hỏi, “bộ ông hối hận hay sao mà đứng ngẩn người ra như thế?”

Cấp Cô Độc trả lời, “tôi đang suy nghĩ nên lấy số vàng ở kho nào để lót cho được đầy đủ số đất còn lại mà khỏi phải mất thời gian”. Thái tử Kỳ Đà rất đỗi ngạc nhiên, không biết Phật là ai mà ông này dám bỏ ra gần hết gia tài để mua đất làm Tịnh xá cúng dường cho Phật. Cấp Cô Độc lúc bấy giờ mới nói, “Thái tử không biết đó sao? Phật trước kia là một hoàng thái tử được kế thừa ngôi vua, nhưng Ngài đã từ bỏ hết tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ, để tu hành sống đời đơn giản, tìm ra thân phận của kiếp người, biết cách làm chủ bản thân để vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Ngài đã mở ra một trang sử mới, một trang sử huy hoàng nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, đi ngược lại các tập tục của thời xa xưa mà không bị lệ thuộc vào đấng thần linh thượng đế ban phước, giáng họa. Ngài đã thật sự giác ngộ giải thoát, không còn bị sự trói buộc bởi các dục lạc thế gian như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn sung, mặc sướng, ngủ nhiều”.

Nghe tới đây, thái tử Kỳ Đà như được rót mật ngọt vào tai, cảm thấy trong lòng bình yên, hạnh phúc làm sao, nên liền phát tín tâm tôn kính đức Phật. Thái tử nói với Cấp Cô Độc, “ông khỏi cần phải lót vàng vào đất nữa, bao nhiêu đây là đủ rồi. Đất là phần của ông cúng dường, rừng cây hoa lá cùng hồ ao, suối nước mát trong là phần của tôi, xin được cúng dường cho Phật”. Cho nên, ngày hôm nay khi chúng ta nghe bài kinh nào Phật nói tại thành Xá Vệ, thì ta có thể biết được tích truyện của thái tử Kỳ Đà và ông Cấp Cô Độc, hai người đã đồng phát tâm cúng dường Phật.

Cấp Cô Độc cả một đời kính tin Tam bảo nên làm việc bố thí cúng dường cho chư Tăng ni không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán, lại hay giúp đỡ người nghèo khó, cô độc, bệnh hoạn, nên được mọi người tặng cho danh hiệu Cấp Cô Độc. Cấp có nghĩa là cho, là giúp đỡ, san sẻ với người bần cùng, cô độc, bệnh hoạn, tàn tật, không người nuôi dưỡng. Vậy mà, có lúc gia đình ông cũng bị thiên tai dẫn đến tán gia bại sản, đến khi cả nhà ăn cháo mà ông vẫn một lòng tín tâm với Tam bảo để cúng dường chư tăng ni. Đức Phật biết được hoàn cảnh gia đình ông lúc này đang gặp khó khăn quá mức, nên khuyên ông hãy thôi cúng dường mà dùng vật thực đó nuôi gia đình. Do lòng tin sâu đối với Tam bảo, ông vẫn duy trì sự cúng dường hằng ngày. Nhờ công đức cúng dường Tam bảo với lòng thành quá lớn, nên sau cơn mưa trời lại sáng. Một thời gian sau, gia đình ông được phục hồi tài sản trở lại và giàu có hơn xưa rất nhiều. Theo sử liệu ghi lại, Phật ở tại Tịnh xá của ông và Thái tử cúng dường suốt 25 mùa An Cư Kiết Hạ, trong suốt 49 năm hoằng dương chính pháp.

Ăn thì hết cho thì còn

Trong lịch sử Phật giáo, Cấp Cô Độc là tấm gương sáng ngời về hạnh bố thí, cúng dường Tam bảo và hết lòng cưu mang, giúp đỡ nhiều người bất hạnh với tinh thần thương yêu bằng trái tim hiểu biết, luôn sống vì lợi ích tha nhân. Ngài là một cư sĩ tại gia xứng đáng được người đời tặng cho danh hiệu vẹn toàn về hai mặt phước và đức. Làm phước, bố thí, cúng dường hay nâng đỡ cho nhau là con đường dẫn đến tình yêu thương nhân loại, là cách thức để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, nhằm giúp cho ta và người cùng ngồi lại bên nhau để được sống bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Trong dân gian Việt Nam có câu: Ăn thì hết, cho thì còn.

Tại sao có chuyện lạ đời như vậy? Câu này nghe nói như ngược đời, nhưng thực tế quả thật không sai chút nào. Cái gì ta đang hưởng thụ, tiêu xài cho riêng mình thì không còn, nên nói ăn thì hết. Còn cái gì ta đang có mà dám đem ra giúp cho người thì cái đó mới chính là của ta, nên mới nói cho là còn. Giống như người có tiền gửi vào ngân hàng, khi nào cần thì ta rút ra xài. Bố thí, cúng dường hay san sẻ, giúp đỡ là nấc thang đầu tiên giúp mọi người gần lại bên nhau vì sự yêu thương, quý mến, nên ta dễ dàng cảm thông và tha thứ, khoan dung và độ lượng; do đó thấy ai cũng là người thân, người thương của mình. Đạo lý nhà Phật giúp ta mở rộng tấm lòng từ bi sáng ngời về hạt giống yêu thương từ việc bố thí, giúp đỡ chúng sinh bình đẳng qua nhiều hình thức.

Từ đó, ta thấy việc làm bố thí, chia sẻ quan trọng ở tâm chân thành, nhờ vậy chúng ta sống với nhau có yêu thương và hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống. Bố thí cúng dường là con đường dẫn đến tình yêu thương nhân loại ngày càng thêm gắn bó, sâu sắc với nhau, bởi sự giúp đỡ, sẻ chia làm giảm bớt ân oán, hận thù. Bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia là nấc thang đầu tiên giúp các vị Bồ tát từng bước tiến lên con đường Phật đạo. Nhờ đóng góp, giúp đỡ, sẻ chia mà tâm ta an lạc, bình yên, hạnh phúc, nên ta thấy ai cũng là người thân, người thương của mình mà sống với nhau bằng trái tim hiểu biết.

Nếu nói về làm phước, bố thí, cúng dường thời Phật còn tại thế thì khó có ai có thể bì kịp với cư sĩ Cấp Cô Độc. Khoảng cuối đời, cư sĩ Cấp Cô độc bị bệnh nặng. Được tin, Phật bảo ngài Xá Lợi Phất và ngài A Nan trực tiếp đến thăm hỏi bệnh của ông có thuyên giảm chút nào hay không. Cấp Cô Độc trả lời, “Dạ, bệnh tình của con không hề giảm bớt mà còn nặng thêm, cơ thể của con đau nhức rã rời, khó bề qua khỏi”. Nhân đó, thầy Xá Lợi Phất mới chỉ dạy pháp tu rốt ráo cho cư sĩ quán niệm về Phật - Pháp - Tăng.

“Phật là bậc giác ngộ chân chính, là người tỉnh thức, là người đã vượt qua cạm bẫy cuộc đời, là người thấy đúng như thật, biết rõ thực hư của cuộc đời, là bậc đáng được tôn kính và xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của mọi người. Pháp là những lời dạy vàng ngọc của Ngài, giúp cho mọi người chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Tăng là đoàn thể sống hòa hợp, hạnh phúc dưới sự chỉ dạy của Phật, vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho mọi người biết được chân lý của cuộc đời mà cùng tu theo. Cư sĩ thường xuyên quán niệm như thế thì sẽ được tăng trưởng phước báo và dần hồi giảm bớt tội chướng cùng với các phiền não khổ đau. Sau khi mạng chung sẽ được tái sinh vào các cõi Trời Người mà hưởng phước an vui, hạnh phúc.

Và cư sĩ nên tinh cần quán chiếu, soi sáng như sau: con mắt thấy sắc không bị sắc làm lay động, thấy chỉ là thấy, thấy một cách rõ ràng, không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết như thế đó, không một niệm nghĩ suy phân biệt, cái này đẹp hay cái kia xấu, vì con mắt và hình sắc không phải là tôi và của tôi. Tương tự tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế.

Cư sĩ hãy nên xem xét, quán sát rằng, mọi pháp đều do nhân duyên sinh và nhân duyên diệt, không có thực thể cố định, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Trong thân này do 4 chất đất-nước- gió-lửa hòa hợp lại mà hình thành, không có gì là thực thể cố định cả. Cái được gọi là ta, là của ta, nó cũng không thật. Ai chấp vào đó thì sinh ra luyến ái, bám víu, mà lầm tưởng là thật ta, nên mới chấp ngã rồi muốn chiếm hữu. Ai nghĩ và làm như vậy tức là người vô minh; do vô minh mà sinh ra vọng động; do có vọng động mà sinh ra vọng thức; do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta-người, do có sự phân biệt ta-người mà sinh ra xúc chạm; do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ; do có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc, và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu của nó, nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ. Cư sĩ nên tinh cần quán chiếu sâu sắc như thế, cái gì có hình tướng đều vô thường, bại hoại, nên không có thật ngã”.

Nghe đến đây, cư sĩ Cấp Cô Độc nước mắt ràn rụa vì đã nghe được điều chưa từng nghe từ trước đến nay. Ngài A Nan thấy thế, tưởng cư sĩ bất an, không kham nỗi giáo pháp siêu tuyệt giải thoát, nên mới hỏi Cấp Cô Độc, “cư sĩ vì sao lại thế?” Lúc này, Cấp Cô Độc mới nói trong nghẹn ngào, xúc động, “không ngờ đến giờ con mới được nghe giáo pháp thậm thâm, vi diệu, sâu xa như thế, giúp con thể nhập được lời dạy của Phật nên con mới xúc động như vậy”.

Ngài A Nan nói, “giáo pháp này đức Phật thường xuyên hướng dẫn cho Chư tăng ni” “Nếu vậy, xin phiền thầy nói lại với Phật, hãy nói pháp giác ngộ giải thoát này để hướng dẫn cho hàng cư sĩ chúng con được biết để tu theo”. Nói xong, Cấp Cô Độc cảm thấy trong lòng an ổn, nhẹ nhàng, vì đã thâm nhập được đầy đủ pháp giác ngộ, giải thoát. Sau khi hai thầy Xá Lợi Phất và A Nan ra về, một hồi sau Cấp Cô Độc an nhiên xả bỏ xác thân và được sinh về cõi trời thứ 33 để hưởng phước báo vô lượng, vô biên, muốn gì được đó.

Yếu chỉ kinh Phước Đức

Kinh Phước Đức nằm trong tạng kinh nguyên thủy, thuộc Tiểu Bộ kinh, nói cho đầy đủ là kinh Nhân Quả Phước Đức. Kinh này do Phật nói, vậy Phật là gì? Phật nói cho đủ là Phật đà, có nghĩa là người giác ngộ, người tỉnh thức, người luôn sống bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Nói gọn lại là Phật. Ở đây, nhân vật chính thưa hỏi đạo lý là người Trời, đại diện cho chư Thiên và nhân loại ở thế gian này. Vì muốn lợi ích cho nhiều người ở thế gian mà chư Thiên cõi trời đến thưa hỏi đạo lý với đức Phật. Thường thì chúng ta hay dùng hai chữ phước và đức đi đôi với nhau, nhưng hai từ này có ý nghĩa khác nhau.

Phước là việc làm bên ngoài như giúp đỡ một ai đó, đức là cái tốt ngay bên trong, như khi bị người mắng chửi mà ta vẫn bình thản, an nhiên, không có tâm bực bội, khó chịu, hay buồn phiền người kia. Phước là những việc làm từ bên ngoài phát xuất từ ý nghĩ, lời nói, rồi dẫn đến hành động, như bố thí hay giúp đỡ một ai đó, đem đến an vui, hạnh phúc trong hiện tại và mai sau. Nếu bây giờ ta không biết gieo trồng phước đức mà muốn hưởng phước báu là chuyện vô lý, không thể được.

Ta nên nhớ rằng, làm phước thì được phước, hưởng phước thì hết phước, biết rõ được cội nguồn của an vui, hạnh phúc thì ta càng làm phước nhiều hơn nữa. Một ngày ta có mặt trong cuộc đời là một ngày ta phải sống sao cho có ích cho mình và người, ta cố gắng không làm tổn hại cho ai. Ngược lại, người sống trong cảnh thiếu thốn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nợ nần chồng chất. Trong gia đình sống không biết kính trên nhường dưới, thường xuyên gây gỗ, bất hòa với nhau thì ta gọi là người thiếu phước đức.

Một là vì ta cung kính, tôn trọng mà bố thí, cúng dường; hai là vì thương người mà ta muốn giúp đỡ, chia sẻ nỗi khổ, niềm đau để làm vơi bớt khó khăn, bất hạnh. Người làm phước là người biết làm việc thiện lành, tốt đẹp, luôn giúp đỡ, sẻ chia khi có nhân duyên, khi có điều kiện, nên rất được mọi người quý mến, ưa thích gần gũi. Người đã từng bố thí hay giúp đỡ nhiều cho nhân loại thì lúc nào cũng được quyền cao chức trọng và giàu sang danh giá. Người chuyên siêng năng, tinh cần tu hành, chuyển hóa nội tâm của mình được trong sạch nhờ biết giữ gìn giới pháp, tu tập thiền định để dứt trừ phiền não, tham-sân-si, người như vậy gọi là người có đức vì không bị tham-sân-si trói buộc.

Nói tóm lại, bản thân mình tốt thì gọi là đức, còn làm lợi ích cho người khác thì gọi là phước. Có phước mà không có đức thì người này dễ dàng làm tổn hại cho nhiều người khi có quyền hành trong tay. Lịch sử nhân loại đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó, như vua Tần Thủy Hoàng và nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu khác trên thế gian này.

Ở đây, đức Phật dạy cách thức làm phước và tu đức, nên gọi đầy đủ là kinh Nhân Quả Phước Đức. Có phước thì được hưởng mọi nhu cầu vật chất đầy đủ, nhờ vậy mà ta khỏi lo cơm áo gạo tiền, khỏi phải bận bịu lo lắng về kế sinh nhai, do đó ta rất dễ dàng, thuận lợi trong việc tu hành để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

Còn nữa...
Thích Đạt Ma Phổ Giác

Ý kiến phản hồi









 Refresh