Cập nhật lúc 16:01 23/05/2017 (GMT+7)

Dưới cánh diều bay

(PGVN)

…Đạo lý của Chư Tổ Thích Ca đáng để em dành trọn cuộc đời. Nếu đã đi mà không tới thì anh chỉ xin em hãy tụng kinh siêu thoát cho mẹ anh vào ngày Rằm và ngày giỗ của bà. Anh đã chọn sang Mỹ du học. Dù ở rất xa nhưng tâm anh sẽ luôn hướng tới Phật… Đây là chiếc diều giấy cuối cùng anh muốn tặng em. Anh chỉ mong em thỉnh thoảng nhìn nó để nhớ về một thời chông chênh trên con đường tu đạo…”

Tôi sống dưới một mái chùa. Nghe sư thầy tôi kể mười tám năm trước, trong lúc đi thuyết pháp ở chùa Hưng Phúc, thầy nghe tiếng khóc của trẻ con vọng lại bên vệ đường, thầy động tâm bảo chú tiểu theo hầu đến xem. Chú tiểu hớt hải chạy tới thưa lại với sư thầy: Bạch thầy, có một hài nhi được bọc trong tã lót, mặt mũi tím tái, hơi thở yếu dần, e không qua khỏi. Thấy vậy, thầy tôi ôn tồn bảo: Mô Phật! Cứu một sinh linh hơn xây mười tòa tháp, thầy trò ta đã có duyên tiền kiếp với đứa trẻ này, hà cớ chi lại để nó cô độc. Thầy dặn chú tiểu đưa tôi đến bệnh viện cứu chữa. Về sau, nhờ bác sĩ tận tâm và hồng phúc của sư phụ, tôi đã khỏe mạnh.

Ít lâu, thầy ẵm tôi về chùa Khải Minh rồi đặt tên tôi là Diệu Vân. Từ đó, tôi sống dưới sự bao bọc, dạy dỗ tận tình của thầy. Tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm mai, tiếng mõ vang vang, mùi thơm dìu dịu của hương trầm đã ăn sâu vào tâm trí tôi lúc nào không hay.

Ở chùa, ban ngày tôi học tập kinh kệ, học văn hóa như học sinh phổ thông. Tối đến tôi tụng kinh, niệm Phật và học các nghi lễ của Phật giáo. Thỉnh thoảng, tôi cùng các sư tỷ, sư muội trồng hoa ở lối ra vào cửa chùa. Chúng tôi trồng đủ loại hoa: Hoa sen màu hồng nhạt, hoa cúc vạn thọ màu trắng sữa đến giống hồ điệp cánh mỏng, hoa lan tím một góc vườn.

Sư tỷ Diệu Hương thích hoa cúc vạn thọ, tỷ nói mỗi lần nhìn nó tỷ liền nhớ tới gia đình. Sư muội Diệu Hoa lại thích hoa sen mọc dưới hồ nước, muội ấy có thể mải miết ngắm nó đến mức quên giờ đọc kinh. Riêng tôi chỉ một lòng muốn ngắm nhìn những cánh diều chao nghiêng, vi vu trong gió. Chẳng là cách chùa khoảng chừng hai dặm về hướng Đông Bắc có một xưởng diều lớn nhất thành phố. Xưởng này tên Thiện Tâm cũng là tên người chủ. Nghe nói chủ xưởng diều là cư sĩ tại gia có tiếng trong vùng, vị này thường hay cúng dường, làm lễ ở chùa tôi. Khi mặt trời sắp khuất rạng sau ngọn núi phía xa xa, đám trẻ con cạnh xưởng ấy thi nhau thả diều, những cánh diều mỏng manh, nhiều màu sắc nhào lộn trên không trung khiến tôi rất thích thú. Thỉnh thoảng tôi tính bỏ học kinh để ra đó ngắm chúng bay bay.
 
Một lần, vào năm tôi lên mười tuổi, sư phụ cho tôi theo hầu người đến xưởng diều thuyết pháp. Đó là lần đầu tiên tôi tận mắt chứng kiến những cánh diều độc đáo, mô phỏng sống động nhiều vạn vật trong cõi nhân sinh. Có con diều cánh phượng, con khác hình cánh bướm vàng rực bay phần phật trong gió. Tôi bất giác động tâm thấy yêu chúng đến lạ kỳ.

Trong lúc buổi giảng kinh sắp vãn, tôi trốn ra phía sau xưởng, ở đó treo la liệt diều giấy. Tôi cầm lòng không đặng, tự tiện giật lấy con diều cánh bướm, rón rén mang nó ra xa rồi định tung nó lên bầu trời xanh thẳm. Ngờ đâu, một cậu bé lớn hơn tôi chừng hai tuổi la hét: “có trộm,… chú bảo vệ… có trộm”.

Cậu ta nhảy choi choi như dẫm phải tổ kiến, cậu bé lao về phía tôi, túm lấy cổ tay tôi hất mạnh chiếc diều giấy khiến nó rơi loạng choạng xuống đất. Tôi thất kinh, toàn thân co rúm ró. Tôi bật môi một cách vô thức chống chế: “Em không trộm diều”. Cậu bé nhếch mép, hếch mũi, nhươn nhướn đôi lông mày nhìn tôi dò xét. Mất ít giây suy nghĩ, cậu ta nói trong hơi thở gấp gáp, giọng the thé nghe rất chói tai: “Mi không trộm rứa mi vừa cầm cái chi trên tay. Mi đứng im ở đây, tao đi mách bố tao”. 

Nói đoạn cậu chạy về hướng đại sảnh – nơi sư thầy đang giảng kinh. Vừa chạy được mấy bước, con trai chủ xưởng diều đụng phải thầy tôi và cư sĩ Thiện Tâm. Cậu ấy liền buộc tội tôi: “Bố... bố có con bé mặc áo nâu định trộm diều bị con bắt được, nó ở đằng kia kìa”. Tôi rầu rĩ, lững thững tiến lại gần chỗ thầy. Thầy nhìn tôi nghiêm khắc bảo: “A Di Đà Phật, Diệu Vân con theo hầu ta đã không hầu đến chốn lại làm điều xằng bậy, con có lỗi là lỗi ở ta không nghiêm. Về chùa, ta phạt con chép kinh Sám hối một tuần trăng”.

Tôi ấm ức, rơm rớm nước mắt nhìn chằm chằm vào đứa con trai chủ xưởng đáp lời sư phụ bằng tiếng “dạ” buông thõng nặng như chì. Thiện Tâm cư sĩ động lòng thương cảm thưa với thầy: “Bạch thầy, con trộm nghĩ đứa trẻ này chỉ là thích thả diều nên mới lấy chơi chứ không có ý trộm. Nếu thầy đồng ý, con xin tặng cháu chiếc diều cánh bướm này mong cháu trọn đời tu”. Thầy tôi nhận lấy con diều rồi cùng tôi ra về.

Từ dạo đó về sau, tôi không qua xưởng diều nữa. Tôi chuyên tâm học kinh, niệm Phật. Thỉnh thoảng tôi vẫn thả diều trước sân chùa. Các sư tỷ không ưa, tỏ ra cáu kỉnh nói: Thứ ấy chỉ dành cho đời tục, đời tu đụng tới sẽ không yên, có khi mải vui mà bỏ đạo. Nghe vậy, tôi cự lại: Em đọc kinh không thấy chư tổ nói thả diều là trái đạo.

Một buổi chiều, nhân lúc mài mực hầu thầy, tôi đem băn khoăn ra hỏi: “Bạch thầy, chư tổ có dạy Phật pháp tại thế gian, vậy con thả diều trong chùa phải chăng đã mang việc thế gian vào chùa?”. Thầy tôi cười bảo: “Người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời mà ngộ đạo, tu tập để cứu đời phát đạo. Thả diều là việc đời nhưng tâm con có đạo thì không can gì”. Thầy tôi vốn nghiêm với đệ tử nhưng với tôi thầy ít khi quở trách. Tôi biết vậy song không vì thế mà làm tới. Mặc cho lòng không đặng, tôi bấm bụng cất chiếc diều hình cánh bướm vào cái hộp lớn quyết không đụng tới nữa. 

Ngày hôm đó, tôi buồn lung lắm. Tôi mơ hồ nghĩ đến chuyện đời, chuyện đạo. Sống đời tục hẳn tôi được làm điều tùy ý. Sống đời tu ngày ngày tụng kinh, niệm Phật, ngửi mùi hương trầm thơm thơm mà sao tôi thấy lòng mình hoang hoải quá. Bất giác, sống mũi tôi cay xè, nước mắt rơi lã chã. Tôi liệu chừng đời tu mình đoản chẳng có ngày đến chốn Tây phương.

Thời gian cứ trôi chảy, chẳng mấy mà đã đến lễ Vu lan. Mùa Vu lan năm nay tôi bước sang tuổi mười tám. Ít tháng nữa tôi được thụ giới Sadini. Dịp lễ báo hiếu phật tử đến chùa rất đông, ai ai cũng nguyện ý thả đèn hoa đăng hoặc cài hoa trên áo để tỏ lòng biết ơn với cha mẹ. Năm nào vào ngày này, tôi cũng trốn vào kho phía sau chùa khóc. Tôi biết mình có cha mẹ, nhưng từ lúc tôi vào chùa tới nay chưa bao giờ thấy họ đến tìm. Tận cõi tâm tôi muốn được báo hiếu cho cha mẹ như các sư tỷ, sư muội khác. Tôi đã đợi điều ấy bao năm nay và tôi chỉ toàn thất vọng!

Sau ngày lễ, tôi bải hoải, mắt ngân ngấn lệ chạy đến chính điện hỏi thầy: “Bạch thầy, con thường oán trách cha mẹ bởi họ không yêu thương con đến chốn, con đã đọc kinh Báo hiếu nhưng con không sao điều phục tâm mình, con nên làm sao mới phải?”. Thầy tôi im lặng, các nếp nhăn xô vào nhau vẻ nghiêm trọng. Được mấy tàn hương thầy lặng lẽ bảo: “Trò ta, con tầm kinh học đạo nhưng đạo quan trọng nhất là đạo hiếu mà chưa thông thì con lấy gốc ở đâu để học đạo khác”. 

Nói đoạn, thầy cho tôi xem bức tranh nói về quá trình mang thai của người mẹ. Xem xong, người hỏi: “Diệu Vân, con thấy mình trong đó không?”. Tôi động tâm trả lời: “Con chỉ thấy một hài nhi”. Sư phụ gật đầu nói thêm: “Đúng, con cũng từng như thế, để sinh ra con cha mẹ phải trải qua trăm nghìn vất vả. Họ tuy chưa có ơn dưỡng dục nhưng có công sinh thành. Hình hài của con là hình hài của cha mẹ. Bởi thế con không nên tùy tiện oán trách. Chư tổ dạy :

“Cùng tột điều thiện không có gì hơn có hiếu
Cùng tột điều ác không có gì hơn bất hiếu”.

Con hãy ghi nhớ lấy điều này”. Tôi khẽ nói: “Con hiểu ra rồi, bây giờ con ra bệ Phật cầu xin Phật tổ ban phước lành cho cha mẹ con, từ nay con không oán không vọng niệm”. Thầy gật đầu lặng lẽ vào phòng riêng.

Một hôm, tiết trời mát mẻ, hoa trong vườn tỏa ra mùi thơm dìu dịu vào làn gió chớm thu. Tôi dậy sớm tưới hoa đã thấy thầy đang làm lễ. Có hai vị thí chủ  dâng hương trong bệ Phật. Đang phun nước vào giỏ lan tím, tôi nghe có tiếng bước chân đi tới: “Này nhóc, em còn nhớ tôi không?”. Tôi ngẩng đầu, đưa mắt dò xét người trước mặt. Đó là một thiện nam chừng hai mươi tuổi, dáng người mảnh dẻ, mắt sáng, mũi cao ra vẻ ương bướng.

“Mô phật: Thí chủ là…“Vân, em phép tắc quá. Tôi là Thiện Quyền, con trai chủ xưởng diều Thiện Tâm, tám năm trước em đến xưởng diều nhà tôi rồi định trộm con diều cánh bướm. Em nhớ không?”.

“Tôi… tôi nhớ, anh là cậu bé đã đổ oan cho tôi. Người tu không trộm cắp”.

Quyền xẵng giọng: “Em chưa xuống tóc, ai bảo em tu”. Tôi giận tím mặt cất bình nước vào kệ bảo: “Anh sống đời tục, không hiểu đời tu đừng nói lời sàm”. Thiện Quyền định nói điều gì đó thì sư phụ và Thiện Tâm cư sĩ bước tới. Cư sĩ nét mặt có chút giận dữ nói: “Thằng bé này, đến chùa mà con vẫn ngang bướng. Thầy đang làm lễ cầu phúc cho con sao con dám trốn ra đây trêu ghẹo người ta?”. Thiện Quyền im bặt, lầm lì không nói. 

Về sau, tôi biết cha con chủ xưởng diều vốn bất hòa từ khi mẹ Quyền mất. Lúc đó anh mới lên mười. Bố Quyền đi bước nữa với một người phụ nữ trẻ, hai người tính tình hợp nhau đều thích ăn chay niệm Phật. Không biết có phép thần thông gì mà từ ngày ông chủ lấy vợ mới, xưởng diều trở nên phát đạt, khách mua diều mỗi ngày mỗi đông. Điều đó khiến cậu bé Thiện Quyền ngày càng xa cách bố. Đến tuổi trưởng thành, Quyền càng ương ngạnh, không nghe lời ai. Thấy vậy, cha anh đâm phiền não đành đưa anh lên chùa cậy nhờ sư phụ tôi khuyên bảo. 

Ban đầu, Quyền cáu gắt, luôn làm trái ý thầy. Thấy vậy, tôi e ngại hỏi: Bạch thầy, con thực không có lòng tin với anh Quyền, anh ấy nghiệp nặng sao có thể thay đổi tâm tính. Thầy tôi nghiêm giọng bảo: “Diệu Vân, nếu có kẻ mù ngay từ lúc lọt lòng mẹ, không hề thấy ánh sáng mặt trời, đến khi nghe người khác nói ánh sáng mặt trời rất đẹp thì nó không tin. Người ta hỏi: Vì sao không tin. Nó trả lời không thấy nên không tin. Con bảo đó là người người ngu si hay sáng suốt?”. Tôi khẽ đáp: “Dạ, người ngu si”. 

Thầy gật đầu biện bạch: “Kẻ mù không có lòng tin thì không sao giải thích được, nhưng một khi con có niềm tin vào ánh sáng của Phật pháp, con nhất định thu phục được nhân tâm”. Về sau, anh Quyền quả có thay đổi. Anh tự giác đọc kinh, niệm Phật. Mẹ hai lên thăm, anh cũng không bỏ chạy như trước. Thầy tôi và cha anh lấy làm hài lòng lắm. Cửa Phật đã giúp Quyền giác ngộ được điều thiện ở đời. Bất giác, tôi cũng thấy vui lây.

Cuối thu, trời chớm lạnh. Anh Quyền thường dậy từ sớm tưới hoa, nhổ cỏ. Anh không chướng tính như trước nhưng bất kể tôi làm gì anh cũng làm theo khiến tôi đâm phiền. Thỉnh thoảng anh mang những con diều giấy đẹp nhất ở xưởng tặng tôi. Mỗi lần làm xong việc, chúng tôi mang diều ra trước sân chùa rồi thả nó lên bầu trời rộng lớn. Quyền ngước mắt nhìn diều lại nhìn tôi cười hớn hở. Vào khoảnh khắc đó, lần đầu tiên tôi nghe thấy tim mình loạn nhịp.

Có lần anh hỏi: “Em định ở chùa đến bao giờ?”. Tôi nói: “Em đã nguyện trọn đời theo đạo, tu cho đến chốn Tây phương”. Quyền tỏ ra không vừa ý: “Em muốn có lọng che, kẻ đưa người rước? Anh không để em toại nguyện”. Tôi ấm ức nói : “Em không tu vì những thứ phù phiếm ấy, sư phụ đã cứu em, mang em đến với đạo. Nhờ đạo mà em biết từ bi, độ lượng. Ngộ đạo nên em không oán trách mẹ cha. Em đã chọn cả đời nương nhờ cửa Phật, anh đừng mong lay động tâm em”. Nói đoạn tôi liền bỏ đi, nước mắt rơi lã chã vì giận. Từ hôm đó, tôi không thả diều cũng không gặp anh. Tôi nghe thầy nói lại, Quyền đã về nhà và không lên chùa từ mấy tuần trước. Tin đó khiến tôi buồn phiền. 

Đêm đến, tiếng mõ kêu boong boong khiến lòng tôi khắc khoải, bất giác tôi tột cùng lo lắng. Tôi thường mơ thấy anh rơi xuống vực vì lùa theo con diều tôi thích. Có lần tôi giật mình la hét, trong vô thức tôi gọi tên anh. Sư thầy tôi ngồi cạnh ôn tồn bảo: “Vân, tâm con không tịnh bảo sao không vọng tưởng”. Tôi ngân ngấn lệ biện bạch : “Bạch thầy, con biết tham ái là nguyên nhân gây đau khổ. Nhưng con không đành lòng buông bỏ, con e phụ ơn thầy bấy lâu nay. Thầy nhìn tôi lặng lẽ nói: Hãy nhìn vào tâm con để quyết định, ta không ép con điều gì”. Tôi gật đầu, nép mình vào tường khóc rưng rức.

Sáng nay, khi đợt gió mùa đông bắc tràn về, tôi dậy sớm quét sân đã thấy sư phụ đi tới. Thầy đưa cho tôi một chiếc hộp nhỏ. Trong đó có chiếc diều giấy hình cánh bướm màu vàng chanh mà tôi thích, kèm theo một tờ giấy nhỏ được gấp cẩn thận đặt dưới đáy hộp. Tôi bồn chồn xem tờ giấy. Đó là chữ Thiện Quyền, anh viết rất ngay ngắn: “Diệu Vân, gần ba tháng sống dưới mái chùa, được tụng kinh, niệm Phật cùng em là khoảng thời gian anh hạnh phúc nhất. Anh đã nông cạn khi nghĩ ái tình của anh có thể đưa em ra khỏi đạo. Đến giờ, anh biết mình đã sai. Anh ngộ ra giáo lý của đạo Phật luôn mang đến những điều tốt đẹp cho chúng sinh. Phật pháp đã thay đổi anh nhiều lắm…
 
…Đạo lý của Chư Tổ Thích Ca đáng để em dành trọn cuộc đời. Nếu đã đi mà không tới thì anh chỉ xin em hãy tụng kinh siêu thoát cho mẹ anh vào ngày Rằm và ngày giỗ của bà. Anh đã chọn sang Mỹ du học. Dù ở rất xa nhưng tâm anh sẽ luôn hướng tới Phật… Đây là chiếc diều giấy cuối cùng anh muốn tặng em. Anh chỉ mong em thỉnh thoảng nhìn nó để nhớ về một thời chông chênh trên con đường tu đạo…”.

Tôi kìm lòng không đặng òa lên khóc, tôi thấy có lỗi với chư tổ, nhưng đây là những giọt nước mắt cuối cùng rơi xuống vì điều phàm tục. Tôi chậm rãi bước ra khoảng sân rộng tung cánh diều lên cao. Đây là lần đầu tiên tôi để tuột dây diều. Tôi để nó bay mãi, bay mãi lên tận bầu trời xanh thẳm.

Gió ngừng thổi, dưới cánh diều bay, sư cụ trụ trì đang làm lễ thụ giới Sadani cho cô bé mồ côi năm nào. Cô mỉm cười, trong lòng hoan hỉ tưởng như được nhìn thấy chư tổ hiện ra trên đám mây mà chiếc diều kia sắp chạm tới.

Hoàng Mỹ Vân

Ý kiến phản hồi









 Refresh