Cập nhật lúc 08:40 10/04/2018 (GMT+7)

Việc thứ năm của Đại Thiên (P.1)

(PGVN)

Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v…) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu đà hoàn.

"Dư sở dụ, vô tri,
Do dự, tha linh nhập,
Ðạo nhân thanh cố khởi,
Thị danh chân Phật giáo".

“Đạo nhân thanh cố khởi”: Câu này nếu nằm trong trường hợp của Đại Thiên, hay nói cách khác, Đại Thiên sử dụng câu này để biện minh cho việc trong cơn mê sảng, do ác nghiệp hành hạ, ông ta than thở, hô to: “khổ thay, khổ thay” để đệ tử khỏi thắc mắc về quả vị A la hán mà thầy mình chứng đắc sao còn than khổ, ông ta biện minh rằng: nhờ tiếng hô đó mà chứng đạt. (nghĩa là âm thanh đã giúp ông ta chứng ngộ). 

Tuy nhiên, có những hành giả nhờ tiếng than khổ trong đời thường mà miên mật hành trì đưa đến chứng đắc, trường hợp sau khác hẳn của Đại Thiên. Trường hợp này đưa đến quả vị Thanh văn, nhờ nghe âm thanh, tiếng tăm mà chứng đắc, hoặc quán xét Tứ đế mà chứng đắc, nghĩa là Tứ thánh quả Thanh văn tùy pháp ứng cơ mà tiến tu giải thoát. A la hán cũng có vị ngộ đạo nhờ vào âm thanh thuyết pháp, trong đó có sự thuyết khổ và than khổ (Đạo nhân thanh cố khởi).

Theo thầy Thích Đức Thằng: “Thinh văn là chỉ cho các vị đệ tử của đức Đạo sư khi còn tại thế, nhờ nghe âm giáo dạy dỗ của đức Đạo sư mà các ngài chứng ngộ”.

1. Tu đà hoàn: 

Khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí đoạn mười tám thứ Kiết, bốn tâm ấy đạt được nơi Khổ đế. Tập pháp nhẫn, tập pháp trí đoạn mười bảy thứ Kiết trong Dục giới. Tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí đoạn mười ba món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Diệt pháp nhẫn, diệt pháp trí đoạn bảy món Kiết ở Dục giới. Diệt tỷ nhẫn, diệt tỷ trí đoạn mười hai món Kiết ở cõi Sắc và Vô sắc. Đạo pháp nhẫn, đạo pháp trí đoạn tám món Kiết ở Dục giới. Đạo tỷ nhẫn, đạo tỷ trí đoạn mười bốn món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Đạo tỷ trí là đắc quả Tu đà hoàn, thật biết các pháp tướng. 

Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v…) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu đà hoàn.

Nếu trước đoạn chín phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là Tư đà hàm. Bởi trước chưa ly dục đoạn tám mươi tám món Kiết sử nên gọi Tu đà hoàn. Lại nữa, được thiện căn vô lậu quả nên gọi Tu đà hoàn. Người lợi căn gọi Kiết đắc, người độn căn gọi là Tín ái. Chưa đoạn tư hoặc nên phải bảy lần sinh nhân gian, nếu đoạn ba món tư hoặc chỉ còn sinh ba lần. Thấu đạt Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là Lưu hướng Niết bàn. Tùy thuận trôi vào biển Thánh gọi là Tu đà hoàn. Đó là đứa con công đức ban đầu của Phật.

2. Tư đà hàm: 

Được thoát khỏi ác đạo, đoạn tam kiết, làm mỏng tam độc gọi là Tư đà hàm. Lại nữa, chín phẩm Hoặc ở Dục giới do kiến đế đoạn và tư duy đoạn. Nếu người phàm phu trước dùng hữu lậu đạo đoạn sáu thứ Hoặc ở Dục giới, vào kiến đế đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là Tư đà hàm. Nếu đoạn được tám thứ Hoặc nhập kiến đế đạo đủ mười sáu thứ tâm gọi là quả Tư đà hàm hướng A na hàm. 

Nếu đệ tử Phật chứng Tu đà hoàn rồi riêng đoạn ba món Kiết dục, chứng Tư đà hàm. Hoặc tư duy trong chín món Hoặc ở Dục giới, đoạn được sáu món gọi là Tư đà hàm; đoạn tám món gọi là quả Tư đà hàm hướng A na hàm.

3. A na hàm: 

Nếu phàm phu trước đoạn chín món Hoặc ở Dục giới vào kiến đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là A na hàm. Hoặc được Tu đà hoàn tiến lên đoạn ba món tư hoặc, chứng đạo giải thoát thứ chín gọi là A na hàm. A na hàm có chín thứ:

1.  A na hàm hiện đời vào Niết bàn.

2.  A na hàm thân trung ấm vào Niết bàn.

3.  A na hàm đời sau sinh ra nhập Niết bàn.

4.  A na hàm chuyên cần mong cầu nhập Niết bàn.

5.  A na hàm không cầu mong nhập Niết bàn.

6.  A na hàm tiến lên các cõi trên nhập Niết bàn.

7.  A na hàm lên cõi trời Ca ni tra nhập Niết bàn.

8.  A na hàm đến định Vô sắc nhập Niết bàn.

9.  A na hàm thân ở vị A na hàm mà hạnh hướng A la hán.

4. A la hán: 

Dùng vô ngại đạo Kim cang tam muội thứ chín phá chín món Hoặc cõi Sắc, Vô sắc và tất cả Hoặc, được tận trí giải thoát đạo thứ chín, tu tất cả thiện căn gọi là quả A la hán. A la hán có chín thứ:

1.  Thối pháp

2.  Bất thối pháp

3.  Tử pháp

4.  Thủ pháp

5.  Trụ pháp

6.  Tất tri pháp

7.  Bất hoại pháp

8.  Tuệ thoát

9.  Cộng thoát

Trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt gọi là A la hán Thối pháp. Trí tuệ sắc bén, siêng năng hành ngũ pháp không lùi, gọi là A la hán Bất thối pháp. Trí kém, tinh tấn yếu mà nhàm chán mạnh suy nghĩ muốn tự sát, gọi là A la hán Tử pháp. 

Trí kém, tinh tấn mạnh tự bảo vệ thân, gọi là A la hán Thủ pháp. Trí bậc trung, tinh tấn bậc trung không tăng không giảm, trụ vào bậc trung gọi là A la hán Trụ pháp. Trí có phần sắc bén, chuyên cần tinh tấn được bất hoại tâm giải thoát gọi là A la hán Tất tri pháp. 

Trí sắc bén, tinh tấn mãnh liệt mới được bất hoại tâm giải thoát gọi là A la hán Bất hoại pháp. Không nhập trong các thiền định, vị đáo địa mà các lậu đã sạch, gọi là A la hán Tuệ giải thoát. Được các thiền cũng được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A la hán Cộng giải thoát.

Có vị A la hán đối với pháp hữu vi rất nhàm chán tự mãn, không muốn làm các việc công đức, chỉ đợi thời nhập Niết bàn. Có vị A la hán mong cầu Tứ thiền, Tứ định vô sắc, Tứ đẳng tâm, Bát giải thoát, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, nhập Cửu thứ đệ định, tu Lục thần thông, Nguyện trí, Vô tránh tam muội, siêu việt tam muội, huân thiền, Tam giải thoát môn và Phóng xả. Lại y cứ trí sắc bén chuyên cần tinh tấn nhập các thiền công đức, gọi là A la hán đắc Bất thoái pháp, Bất hoại pháp. (Trước thuật SAMGHARAKASA, Dịch Phạn - Hán: KUMÀRAJIVA, Dịch Hán - Việt: Thích Thanh Từ)

Nhưng theo Trưởng lão Thích Thông Lạc thì phủ nhận quả vị Thanh văn của Đại thừa: “Trong kinh Sa Môn Quả chúng tôi cũng thấy đức Phật nói về quả của Tứ Không và Diệt Thọ Tưởng Định. Nhưng cũng trong kinh này chúng tôi không tìm thấy đức Phật nói về bốn quả Thanh văn Tiểu thừa”. Tứ quả A la hán là quả vị Thánh cao siêu cuối cùng, thật sự giải thoát, giác ngộ viên mãn. Vị A la hán tự tại phi thường, tuổi thọ vượt hơn người bình thường, không còn bị cuốn vào luân hồi sinh tử nữa, muốn chết (viên tịch) lúc nào cũng được. Một vị A la hán sẽ có đủ Tam minh và Lục thông, không thể có chuyện một vị đã chứng A la hán nhưng không có đủ Tam minh và Lục thông được.

Vị A la hán phải hết sạch lậu hoặc mới gọi là A la hán. Nói A la hán chưa hết lậu hoặc là phỉ báng A la hán. Người ta chỉ tưởng ra mà nói, chứ chưa biết rõ thế nào là hết lậu hoặc thế nào là chưa hết lậu hoặc. Ở trong định nào mà hết lậu hoặc và ở trong định nào mà không hết lậu hoặc. Đừng dùng kinh sách Đại Thừa như: “kinh Duy Ma Cật, kinh Bỏ những giới nhỏ nhặt, kinh Đại Bát Niết Bàn v.v…” mà phỉ báng những bậc A la hán đại đệ tử của Phật thì thật đáng thương, tự mình đã giết mình mà không biết. Đó là mục đích của Bà La Môn dùng những kinh sách này diệt Phật giáo. (Trưởng lão Thích Thông Lạc)

“Bậc Thanh văn còn được gọi là A la hán hay La hán. Các ngài đều có thể bay đi, biến hóa và đều có thần thông. Bậc thánh nhân đã chứng quả thì không hề nói năng một cách tùy tiện, như: “Người kia đã chứng quả vị” hoặc “Tôi là một vị A la hán”. Các ngài không thể nào làm như vậy được! (HT.Tuyên Hóa giảng)”

Với quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, nhìn mọi vật trong pháp giới đều là Phật pháp, vì thế mới có câu “Thế gian pháp tức Phật pháp,” cũng có câu “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”.

“Thanh cố khởi” là một hệ phái xuất phát từ Bà la môn giáo, hệ phái Di man tác (Mimansa - thanh thường trụ phái), cùng một số hệ phái sau khi tách rời hệ Thần học của Đa Thần giáo, đưa đến độc Thần giáo dùng âm lực siêu linh để chìm sâu vào tâm linh thần khải, những hệ phái vô thần, chú trọng đến tâm thức, khai mở quang năng thông qua những luân xa mà Yoga từ đó thịnh hành ở Bắc Ấn. 

Có một số tu sĩ Thần khải thuộc hệ Kito giáo mật khải xa xưa, luôn chiêm nghiệm và lắng nghe âm lực của Thượng đế, ẩn tu sâu nơi vắng vào những thế kỷ 18 trong vùng Bắc Á. Đó là một trong những trường phái cá biệt tuy không xuất phát từ một gốc nhưng gặp nhau ở một điểm mà người Kito gọi là “ngôi lời”, hay một số hệ phái Bắc Ấn gọi là “Om”, “diệu âm”, “âm lực vũ trụ”… để từ những âm ngữ thiêng liêng này, hành giả hoà nhập, kết hợp cùng Đại ngã (Thượng đế).

Ta tìm hiểu sơ qua 6 chính phái xuất phát từ Bà la môn giáo nhưng vẫn còn ảnh hưởng những cơ bản của Bà la môn, nhất là đại thể của vũ trụ và tiểu ngã trong mỗi con người; tuy còn vương vấn tâm linh thông qua âm lực siêu nhiên, vài hệ phái thấp thoáng quan niệm về đấng tối cao chi phối vũ trụ và nhân sinh, tuy vậy vẫn mang dáng dấp luận triết khoa học, cũng có hệ phái được xem là vô thần vì không hề nhắc đến Thượng đế. Nhưng mỗi cá nhân có đủ khả năng vượt thoát khỏi dục giới bằng những pháp hành và giới luật tinh nghiêm để hòa nhập cùng “đại thể” vũ trụ mà Bà la môn gọi là Brahman.

Có 6 chính phái (khoảng từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 5):

- Nyasa: Nhân minh luận (Chính luận).

- Vaicesika: Thắng luận (Vệ thế sư luận, Tỳ thế sư luận).

- Samkhya: Số luận.

- Yoga: Du già luận.

- Mimamsa: Thanh thường trú luận.

- Vedanta: Thánh kinh huyền nghĩa luận.

3. Biệt phái: Gọi là Biệt phái vì:

- Không chấp nhận hoá công, tách biệt khỏi vũ trụ, tạo nên vũ trụ.

- Không công nhận giá trị của Veda.

- Không chấp nhận lễ nghi, kinh kệ.

- Không chấp nhận lối phân chia giai cấp.

3 Biệt phái là:

- Triết học Duy vật Carvaka.

- Kỳ Na giáo (Jainism).

- Phật giáo (Buddhism).

Trừ phái Duy vật Carvaka ra, ta thấy triết học Ấn Độ (Phật, Ấn, Kỳ Na) có những điểm tương đồng sau đây:

- Vũ trụ này được chi phối bởi những định luật vĩnh cửu.

- Đạo nào cũng chủ trương không nên mê luyến ngoại cảnh gian trần.

- Chủ trương sống cho hẳn hoi.

- Cần tu luyện để thoát vòng luân hồi, nghiệp chướng.
 
Sáu chính phái:

6 chính phái đều đề cao sự hiểu biết, vì chỉ có sự hiểu biết mới khai phóng được con người và giúp con người thoát mê lầm, giác ngộ, giải thoát chứ không phải cầu khẩn nghi lễ rườm rà.

1. Nyaya (Nhân minh luận, chính luận phái):

Nyaya dạy cách suy luận, hiểu biết cho đúng đắn, hẳn hoi. Nó tương đương với Luận lý học (Logic) Tây Phương.

2. Vaicesika (Thắng luận phái):

Vaicesika khảo sát về các yếu tố, cấu tạo nên vũ trụ hữu hình. Người ta thường gọi phái này là Nguyên tử đa nguyên phái. Gọi là Đa nguyên vì Kanada, người sáng lập ra môn phái cho rằng vũ trụ này đã do 9 yếu tố vĩnh cửu sáng tạo nên. 9 yếu tố đó là:

Địa (đất), thuỷ (nước), hoả (lửa), phong (khí), không (thái hư), thời (thời gian), phương (không gian), Thần (Thượng đế và các hồn thiêng. Thực ra, môn phái này, thoạt đầu chỉ chấp nhận có các hồn thiêng vô số kể, nhưng không chấp nhận có Thượng đế. Ý niệm Thượng đế dần dà mới được thêm vào). Cuối cùng là Ý (cơ quan suy tưởng, mana, organ of thought).

Chín yếu tố đó vĩnh cửu, như vậy đối với Vaicesika, vũ trụ này là thật chứ không phải là giả.
Vaicesika tức là Nguyên tử luận của Âu châu.

Tóm lại phái Vaicesika chủ trương:

- Vũ trụ này được cấu tạo bằng 9 yếu tố vĩnh cửu.

- Các nguyên tố ấy hợp thì thành vũ trụ, tan thì huỷ vũ trụ.

- Các linh hồn vĩnh cửu.

- Thượng đế (nếu có) thì chỉ điều khiển cho các nguyên tố ấy ly hợp cho phải phép, chỉ trông coi cho các duyên nghiệp được hoạt động đứng đắn, chứ không tạo nên các nguyên tố, cũng như không dựng nên các linh hồn.

- Muốn giải thoát khổ đau, phải biết cho đúng, hành cho phải và rũ sạch duyên nghiệp.

3. Samkhya:

Samkhya bàn về các yếu tố cấu tạo nên các thế giới tinh thần, vật chất và phân biệt 2 bình diện vũ trụ:

- Một bình diện hiện tượng của Prakriti.

- Một bình diện siêu việt của Purusa. Sáng lập viên là Kapila.

Vaicesika là Đa nguyên vô thần luận, còn Samkhya là Nhị nguyên vô thần luận, hay Nhị nguyên nhị thập tam đế luận.

Tại sao Samkhya là vô thần? Thưa vì không đề cập đến Thượng đế trong học thuyết.

Tại sao gọi là Nhị Nguyên? Thưa vì chủ trương vạn hữu này đã được tạo dựng nên từ 2 nguyên lý vĩnh cửu. Đó là: Purusa = Thần Ngã. Buddhi là Giác, Samkhya chủ trương Nhị nguyên chẳng khác nào Trung Hoa chủ trương Âm Dương tạo thành vũ trụ.

4. Yoga (Du già phái): Do Patanjali sáng lập.

Yoga áp dụng các khám phá của Samkhya vào công cuộc tu thân và dạy con người cách thức chế ngự xác thân, tâm chí, để vươn vượt từ bình diện hiện tượng 

Yoga còn đưa ra 8 phương pháp sau đây để diệt trừ phiền trược, thanh tâm, tĩnh trí, điều thần, mà người Trung Hoa dịch là Bát chi hành pháp, thực hành ít tư thế ngồi để định thần.

Về phương diện sinh lý học, Yoga đã hết sức chú trọng đến đường đi của khí thông qua các luân xa.

Yoga áp dụng các định luật tự nhiên vào công cuộc tu thân. Tương hợp với Đạo lão của Trung Hoa.
 
5. Mimansa (thanh thường trụ phái): Mimansa do Jamini sáng lập. Mimansa có mục đích:

A. Giải thích, bảo vệ Veda.

B. Giải thích, tìm hiểu vi ý của lễ nghi trong Veda.

C. Tìm tòi những định luật nhân sinh đã được Veda đề cập tới.

D. Cho rằng tiếng Sanscrit dùng để viết nên Veda đã được phát sinh từ những âm thanh vĩnh cửu của bản thể từ muôn thuở phát ra, vì thế những lời chú trong Veda có một huyền lực đặc biệt. Chính vì chủ trương này mà Mimamsa được gọi là phái Thanh (thanh âm) thường trụ (vĩnh cửu). Bởi vì sự phán truyền là sự phát hiện của ngôn ngữ, sự liên tục phát hiện của âm thanh. Mà bản chất của âm thanh vốn là thường trụ, vô sinh

Mimamsa gọi những định luật vĩnh cửu đó là Dharma.

6. Vedanta:

Phái này chủ trương phát huy tinh hoa và huyền nghĩa của Veda và Upanishads.

Phái này vạch rõ đích điểm (Anta: cùng đích) của Veda, là tìm hiểu về Brahman, bản tính của Brahman, nhờ đó đạt tới Brahman và được giải thoát.

Brahman căn nguyên vũ trụ thời siêu không gian, thời gian. Còn vũ trụ hữu hình này thì nằm trong không gian, thời gian và định luật nhân quả.(Trần Cao Lộc)
                
Nhìn chung, các tông phái ở Ấn Độ tuy phức tạp nhưng giáo lý có nhiều điểm tương đồng. Những điểm tương đồng này thể hiện qua các từ: Maya (vô minh), Karma (nghiệp báo), Nirvana hay Turiya (Niết bàn hay trạng thái siêu thức)... Và con đường để đưa đến đại ngộ là Yoga. Nó như chiếc xương sống của tư tưởng Ấn Độ. 

Qua các tông phái, ta thấy có nhiều con đường để đi đến giác ngộ. Phái Mimamsa tu luyện bằng việc hành lễ và tụng niệm, tương tự như phái Tịnh độ của đạo Phật. Phái Tantrisme thì thờ phượng và tụng các chân ngôn. Phái Vedanta dùng trí tuệ tu luyện để thấu triệt cái lẽ phi nhị huyền diệu trong tạo vật, phái Jana cũng tương tự như vậy. Nói chung là có hai con đường là tiệm ngộ và đốn ngộ.

- Tiệm tu: Là tu luyện để đi dần đến giác ngộ, hợp với căn cơ của nhiều người như Tịnh độ tông hay phái Mimamsa. Thường nương vào tha lực qua nghi tế, âm thanh cầu nguyện và tán tụng, mật chú…

- Đốn ngộ: Là con đường tắt ngắn để chóng ngộ đạo, như thiền định... Thiền tông là một chi nhánh của Phật giáo và phát triển ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam... Khi sáng lập Thiền tông tại Trung Hoa, đức Bồ Đề Đạt Ma đã chế hóa ít nhiều theo phương thức tu luyện của Yoga. Tuy đốn ngộ, một số trường phái thiền phát xuất từ Bắc Ấn cũng không thoát khỏi mật ngôn ấn chú của âm lực siêu nhiên như Kim Cang thừa thịnh hành ở Bắc Ấn.


Ý kiến phản hồi









 Refresh