Cập nhật lúc 15:58 19/05/2017 (GMT+7)

Sự tiếp biến Phật giáo trong văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ (P.1)

(PGVN)

Với tư cách một tôn giáo lâu đời và quan trọng của người Việt, Phật giáo đã đi cùng và có mặt ở miền Tây Nam Bộ ngay từ những ngày đầu khi lưu dân từ miền Bắc và miền Trung vào khai phá vùng đất này. Trong những điều kiện tự nhiên và xã hội đặc thù, Phật giáo của người Việt miền Tây Nam Bộ có những nét riêng tương đối độc đáo, bên cạnh những đặc điểm chung của Phật giáo Việt Nam.

Mở đầu

Chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ một số đặc trưng tiêu biểu ấy trong xem xét Phật giáo ở đây, một mặt, như một hệ thống gồm các thành tố: thần phả, giáo lý, nghi lễ, cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo; mặt khác, như một thành tố trong văn hóa tộc người và văn hóa vùng như một hệ thống.

Theo một nghĩa nghiêm ngặt, các hình thức tôn giáo địa phương như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo... không được xem là thuộc về Phật giáo. Tuy nhiên, trong đề tài của chúng tôi về “Sự tiếp biến Phật giáo trong văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ”, những đạo ấy vẫn thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ít nhất là qua đối chiếu so sánh để làm sáng tỏ đặc điểm văn hóa vùng của các giáo phái Phật giáo quen thuộc trên thế giới cũng như những hệ phái được Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức công nhận, hoạt động trên miền đất Tây Nam Bộ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu và tư liệu tham khảo tương đối đa ngành, từ lịch sử, xã hội, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, các ghi chép lễ hội, phong tục tập quán... Trong đó, xin giới thuyết kỹ hơn đối với một số tư liệu văn học và lịch sử tôn giáo.

Trong các tư liệu lịch sử tôn giáo, chúng tôi chú ý đến hai công trình: “Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang”, 1974 (từ đây xin viết tắt VNPGSL) và “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX” do Thích Đồng Bổn chủ biên, 1995-2002 (từ đây xin viết tắt TSDTVN). Cả hai công trình đều do các học giả - tu sĩ Phật giáo thực hiện nên có được sự thấu hiểu của “người trong cuộc” (insider), mặt khác cũng có uy tín cao về tính khoa học, sự công phu, nghiêm túc, cấp cơ sở tin cậy cho việc tìm hiểu sự tiếp biến Phật giáo trong văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ trong quan hệ so sánh với văn hóa các chủng tộc khác và văn hóa các vùng miền khác. 

Qua cuộc đời các vị danh tăng như những nhân cách tiêu biểu để nhận diện đặc điểm của văn hóa Phật giáo, theo chúng tôi, có thể là một hướng tiếp cận hữu hiệu. Vì Tăng bảo là một trong Tam bảo của Phật giáo. “Tăng bảo được coi là thành phần trọng yếu, nhờ có Tăng hoằng pháp mà Phật pháp được mở rộng (…). Đạo Phật thịnh hay suy là căn cứ ở con người…”. Sự xuất hiện các vị danh tăng/cao tăng với “phần thực hành, hành động cao vời”, danh tiếng lẫy lừng đánh dấu sự phát triển hưng long của Phật giáo. [Thích Thanh Kiểm – Lời giới thiệu TSDTVN: 4]. 

Chúng tôi tập trung vào những vị cao tăng sinh quán ở miền Tây Nam Bộ (phần khá đông cũng tham học, hoằng đạo, cống hiến cho Phật giáo chủ yếu ở khu vực này). Một số vị là người Việt gốc Hoa hay gốc Khmer, nếu truyền đạo, cống hiến cho Phật giáo chỉ trong cộng đồng người Hoa hay người Khmer thì không thuộc đề tài, nhưng nếu hoằng đạo, cống hiến trong cả cộng đồng người Việt thì vẫn thuộc đề tài của chúng tôi. Khảo sát cuộc đời và sự nghiệp các danh tăng, chúng tôi không chỉ chú ý đến cá nhân các vị mà còn quan tâm đến các thông tin lịch sử về tăng chúng, quần chúng tín đồ, hoạt động và thành tựu của Phật giáo nói chung trong bối cảnh xã hội, thời đại rộng lớn.

Về các tư liệu văn học dân gian, chúng tôi dựa vào hai công trình sưu tập của Lệ Như Thích Trung Hậu, “Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo” (từ đây xin viết tắt NTCVNMMSPG) và “Ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam” (từ đây xin viết tắt CDTNPGVN). Trong những câu chuyện, câu ca đã được chọn, không ít trường hợp không dễ dàng xác định rạch ròi giữa tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, triết lý - đạo đức dân gian… cũng không ít trường hợp không dễ dàng tách biệt giữa truyện cổ dân gian, ca dao, tục ngữ dân gian và truyện tôn giáo, thơ ca tôn giáo, sấm vãn/sám giảng tôn giáo được lưu hành rộng rãi, trở nên quen thuộc trong kho tàng ngữ văn truyền khẩu của quần chúng nhân dân. 

Lệ Như Thích Trung Hậu theo hướng thà chọn dư còn hơn bỏ sót, như GS Cao Huy Thuần đã viết đầy đồng cảm trong “Lời giới thiệu” của CDTNPGVN: “Chọn lựa của tác giả quả là day dứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, mọi người được thưởng thức hoa thơm cỏ lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua…” [Lệ Như Thích Trung Hậu 2002: 13]. 

Với tư cách người nghiên cứu, chúng tôi nghiêng theo khuynh hướng ngược lại: thà bỏ sót hơn chọn dư. Khi dựa trên CDTNPGVN, chúng tôi cân nhắc để chỉ khảo sát những đơn vị truyện cổ, ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo với độ thuyết phục (tương đối) cao. Tất nhiên, lựa chọn như vậy cũng là “đành mang tội” theo một cách khác, nhưng chúng tôi cho rằng cách này có thể chấp nhận được, dựa vào một tiền đề mà Propp đã giới thuyết trong phần mở đầu công trình “Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ”, đại ý: Vì một cấu trúc loại hình thể hiện nhất dạng qua thiên hình vạn trạng các cá thể thuộc loại hình đó, nên việc nghiên cứu cấu trúc loại hình có thể bắt đầu ngay cả khi chúng ta chưa thể tập hợp được đầy đủ đến cạn kiệt tất cả số lượng các cá thể thuộc loại hình. Sau khi lọc lại để chỉ còn những đơn vị truyện cổ, ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo, chúng tôi cố gắng tiếp tục nhận diện những đơn vị thuộc văn học dân gian của người Việt miền Tây Nam Bộ để có thể so sánh làm nổi bật đặc trưng vùng miền.

Về tư liệu văn học viết/văn học bác học, chúng tôi đặt tiêu cự trên những tác phẩm tiêu biểu của một số nhà văn nổi tiếng miền Tây Nam Bộ, thời trung đại (Nguyễn Đình Chiểu) cũng như hiện đại và đương đại (Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư).

Chúng tôi dùng “chính thể” và “biến thể” (cả hai đều đặt trong ngoặc kép biểu đạt tính quy ước của những khái niệm công cụ dùng trong nghiên cứu này) để phân biệt những trường hợp kế thừa tương đối trung thành ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa với những trường hợp có độ điều chỉnh nhất định (hay “độ khúc xạ”, nếu mượn cách nói của Phan Ngọc) cho thấy đặc điểm độc đáo của sự tiếp biến Phật giáo trong văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng.

1. Miền đất sùng mộ Phật giáo

Cũng như quá trình khẩn hoang đã bắt đầu ở Tây Nam Bộ muộn hơn Đông Nam Bộ, Phật giáo du nhập Tây Nam Bộ muộn hơn Đông Nam Bộ. Các ngôi chùa cổ nhất Nam Bộ đều ở miền Đông, như Bửu Phong, Long Thiền, Đại Giác (khoảng giữa TK XVII) thuộc Cù Lao Phố (Đồng Nai ngày nay), Từ Ân, Khải Tường, Kim Chương, Tập Phước, Giác Lâm (khoảng nửa đầu TK XVII) thuộc Gia Định... Những ngôi chùa sớm nhất ở miền Tây Nam Bộ được xây dựng muộn hơn, khoảng cuối TK XVIII (chùa Phước Lâm - Tiền Giang, chùa Bửu Hưng - Đồng Tháp) đầu thế kỷ XIX (chùa Bửu Lâm - Tiền Giang, 1803).

Tuy du nhập muộn nhưng Phật giáo đã nhanh chóng bén rễ sâu ở miền đất này.

Ở Việt Nam, đến 70-80% người dân có cảm tình, có thiên hướng, có tâm thức Phật giáo, tuy nhiên, số phật tử, theo thống kê chính thức của Nhà nước năm 1999, chỉ có khoảng 10 triệu, chiếm gần 12% dân số. Với 19,2%, tỉ lệ phật tử trên số dân của Tây Nam Bộ cao hơn tỉ lệ trung bình của cả nước, cao hơn tỉ lệ của Đông Nam Bộ và cao hơn nhiều so với Bắc Bộ.
  
 
Dân số
 
 Số lượng phật tử 
Tỉ lệ 
 
Bắc Bộ
 
 16.838.837
 633.335
 3,8%
 Đông Nam Bộ
 11.709.923
 1.984.932
 17%
 Tây Nam Bộ
 16.130.675
 3.102.910
 19,2%

Khảo sát công trình TSDTVN, trong 200 vị danh tăng Việt Nam thế kỷ XX được tôn vinh, có đến 71 vị danh tăng sinh quán ở miền Tây Nam Bộ, chiếm 35,5% tổng số danh tăng cả nước. Chưa kể rất nhiều vị sinh ở miền Trung hay Đông Nam Bộ nhưng cuộc đời tu tập, hành đạo gắn với miền Tây Nam Bộ.

 
Số vị danh tăng 
 
Tỉ lệ  
 
Bắc Bộ 
 31
 15,5%
 Đông Nam Bộ
 18
 18 9%
 Tây Nam Bộ
 33
33,5%

Niềm sùng mộ với Phật giáo thể hiện rõ nét trong thái độ đối với việc xuất gia, tu tập

Khảo sát công trình TSDTVN, ta thấy các danh tăng miền Tây Nam Bộ phần nhiều xuất thân trong những gia đình có truyền thống đạo đức nhân ái, kính tín Tam bảo. Nhiều trường hợp, song thân của các vị là cư sĩ hoặc thường lễ chùa, không hiếm khi cơ duyên khiến các vị đến với Phật giáo là ở những lần theo mẹ lên chùa, khi lên chùa cầu siêu cho cha... Nhiều trường hợp song thân cho phép, song thân trực tiếp dẫn con tới chùa cho làm lễ quy y. Một số vị, khi xuất gia, thoạt tiên đã ở ngôi chùa có người ông, người cậu, người anh của mình trụ trì/tu tập, nên “trong đạo nghĩa thầy trò còn có tình huyết thống”. Không hiếm vị danh tăng có nhiều anh chị em trong gia đình cùng xuất gia, thậm chí cùng thành những vị tăng có uy tín (3 trong số 7 anh chị em của HT.Thích Đạt Thanh, cả 4 anh chị em trong gia đình HT.Thích Bửu Lai, 5 trong 7 anh chị em của HT.Thích Huệ Hưng, cả 6 anh em của HT.Thích Đạt Hảo…).

Không hiếm các vị danh tăng xuất gia từ khi còn nhỏ (6-7-8-9-11-12 tuổi…). HT.Thích Huệ Pháp từ nhỏ đã nặn tượng Phật bằng đất. HT.Thích Thiện Hoa quy y từ nhỏ, lấy pháp danh làm thế danh… Một số vị trước khi xuất gia đã cất am tu, cốc nhỏ trong vườn, nhà, tự cạo tóc, ăn chay, nằm đất, học hành suy niệm (HT.Thích Chánh Hậu, HT.Thích Huệ Pháp, Tổ Minh Đăng Quang…). Bên cạnh đó, cũng có những vị đã kết hôn, lập nghiệp, thành đạt trong đời, vẫn quyết lòng theo Phật sau khi thu xếp trách nhiệm gia đình. (HT.Thích Chánh Hậu khuyên vợ về bên ngoại rồi quy y, người vợ của ông sau này cũng trở thành ni sư. HT.Thích Bổn Viên từ chùa về thăm nhà, thấy mẹ bệnh nặng đã tận tình chăm sóc, sau đưa mẹ về chùa, hướng dẫn tu tập. HT.Thích Hoàng Đức, HT.Thích Bửu Lai xuất gia ở tuổi 47, 54…).

Niềm sùng mộ với Phật giáo của giới phật tử cũng như đông đảo quần chúng miền Tây Nam Bộ thể hiện qua nhiều hoạt động hữu tâm với phật sự. Nổi bật nhất là việc kiến thiết, tu bổ chùa chiền. Nếu ở Bắc Bộ, “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”, chùa chiền được nhà nước hoặc làng xã xây dựng, thì ở Nam Bộ, nhiều chùa do tư nhân xây dựng. Chính các vị danh tăng hoặc song thân của họ, không hiếm trường hợp, “cải gia vi tự”, cải tạo ngôi nhà từ đường thành ngôi Tam bảo, lập tịnh thất gần nhà, bỏ tiền xây chùa (HT.Thích Đạt Hảo, HT.Thích Định Quang, HT.Thích Đạt Thanh, HT.Thích Từ Huệ…). 

Qua cuộc đời các vị danh tăng, ta thấy rất phổ biến hiện tượng những đại thí chủ, những người giàu có (điền chủ, bá hộ, thương nhân, doanh nhân…) hiến đất dựng cơ sở tôn giáo, phát tâm xây chùa, rồi cung hiến cho các vị danh tăng mà họ kính tín hoặc cung thỉnh các vị về trụ trì. Hầu hết các vị danh tăng đều có công rất lớn trong việc xây dựng, trùng tu các cơ sở tôn giáo. Nhiều vị danh tăng trong đời đã vận động quyên góp, tổ chức kiến thiết, tôn tạo hàng chục chùa chiền. (HT.Thích Minh Trực đứng ra xây dựng mười mấy ngôi chùa cùng mang tên Phật Bửu tại nhiều tỉnh miền Trung và miền Tây, miền Đông Nam Bộ. HT.Thích Từ Huệ tổ chức xây dựng 12 ngôi Đạo tràng tịnh xá…).

Theo thống kê chính thức, đến năm 2007, cả nước có 14.321 ngôi chùa, tịnh xá, thiền viện Phật giáo, trong khi đó, ở Nam Bộ chỉ đến năm 1963 đã có tới 4.769 ngôi chùa (so với toàn bộ những cơ sở tu tập, thờ phụng Phật giáo các loại của cả nước, đã tăng số lượng khá nhiều sau gần nửa thập kỷ, vẫn chiếm %). Miền Tây Nam Bộ có nhiều chùa hơn hẳn so với Đông Nam Bộ. Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, miền Tây Nam Bộ có 1.925 ngôi chùa, nhiều gấp ba so với 687 ngôi chùa của Đông Nam Bộ. [Trần Hồng Liên 2004: 35]. 
Bái Đính - Ninh Bình được xem là ngôi chùa lớn nhất Việt Nam hiện nay, mới được xây dựng gần đây. Ngôi chùa lớn nhất Nam Bộ tọa lạc ở miền Tây, chính là chùa Vĩnh Tràng - Mỹ Tho (gần 2 ha).

Tây Nam Bộ không có những pho tượng Phật lớn nhất nước, nhưng là nơi có những ngôi chùa đạt kỷ lục nhiều tượng Phật, tượng Bồ-tát nhất nước, mà điều đáng nói là trường hợp tất cả các pho tượng chỉ do một cá nhân tạo tác suốt một thời gian dài ròng rã với lòng kính ngưỡng Phật Pháp. Như chùa Phật Quang (Sóc Trăng) với trên 300 pho tượng do tu sĩ Thích Huệ Chơn đắp bằng xi-măng trong hơn 40 năm, chùa Bửu Sơn (còn gọi là chùa Đất Sét - Sóc Trăng) với 1.901 bức tượng Phật (chưa kể hơn 200 tượng thú, bảo tháp, lư hương...), tất cả đều được cư sĩ Ngô Kim Tòng đắp bằng đất sét trộn ô dước. Ông Ngô Kim Tòng còn tạo 8 cây nến khổng lồ (mỗi cây khoảng 200kg, cao 1,6m, ước cháy liên tục khoảng 70 năm, trong đó, 6 cây lớn chưa đốt, 2 cây nhỏ hơn đang cháy); những cây hương/nhang cao 1,5m (3 cây vẫn chưa đốt).

Có thể thấy Nam Bộ là vùng trù mật nhất của Phật giáo Việt Nam, trong đó, Tây Nam Bộ còn đậm hơn Đông Nam Bộ.
 
2. Phật giáo với sự đa dạng và tính dung hợp cao

Tây Nam Bộ cũng là miền đất đa dạng, phong phú các tôn giáo nhất trong cả nước. Ở đây, bên cạnh Phật giáo, còn có sự hoạt động của các tôn giáo lớn, ngoại nhập như đạo Bà La Môn, đạo Hồi, Công giáo, đạo Tin Lành cũng như các tôn giáo địa phương, từ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài đến Tịnh độ Cư sĩ... Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ đều được khai sinh và hoạt động chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (1); ở những mức độ khác nhau, đều là những hình thức Phật giáo mang tinh thần dân tộc của Việt Nam, mang đặc trưng văn hóa vùng. 

Đạo Cao Đài cũng thực hiện sự tổng hợp Đông - Tây dựa trên căn bản giáo lý, nghi lễ Phật giáo và tuy sinh ra, tập trung nơi thánh địa Tây Ninh ở Đông Nam Bộ nhưng cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với một số địa phương Tây Nam Bộ.

Có thể kể thí dụ về Cần Thơ được xem như “Tây Đô”, nơi tập trung “thủ phủ” của nhiều tôn giáo trong vùng: 
(1) Đối với Công giáo, năm 1960, Tòa thánh Vatican nâng giáo phận Cần Thơ thành giáo phận chính tòa (bao gồm các địa phương Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Chương Thiện) và đặt Tòa Giám mục, nhà thờ Chính Tòa tại đây. Năm 1988, Đại chủng viện Thánh Quý cũng được mở ở Cần Thơ để đào tạo linh mục cho Giáo hội ở 11 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. 

(2) Đối với đạo Tin Lành, địa hạt Tây Nam Bộ (gồm các tỉnh phía Tây sông Hậu) được thành lập năm 1972, đặt trụ sở tại Cần Thơ. 

(3) Hệ phái Cao Đài Chiếu Minh Long Châu ra đời năm 1956, chọn Cần Thơ để xây dựng Tòa Thánh Long Châu. 

(4) Văn phòng của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Nguyễn Long Châu cũng đặt tại Cần Thơ...

Riêng về Phật giáo, Tây Nam Bộ cũng là miền đất phong phú, đa dạng nhất nước về các giáo phái. Trong khi người Việt và người Hoa theo Phật giáo Bắc tông thì người Khmer theo Phật giáo Nam tông. Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) lại bao gồm cả Tịnh Độ tông, Thiền tông (Tào Động và Lâm Tế) lẫn Mật tông (Đông Mật và Tây Mật).

Bối cảnh như vậy nên không có gì ngạc nhiên khi Phật giáo của người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện tính dung hợp rộng rãi nhất, không những trong quan hệ giữa các giáo phái Phật giáo; quan hệ giữa Phật giáo với các tôn giáo, tín ngưỡng khác mà còn cả trong quan hệ với Phật giáo của các chủng tộc khác (Hoa, Khmer).

Trước hết, về khả năng tích hợp những giáo phái Phật giáo khác nhau. Theo HT.Thích Minh Trực, “muốn nhiếp hóa đồ chúng dễ dàng, phải kết hợp cả Thiền lẫn Tịnh, cả Đốn lẫn Tiệm. Về Thiền, ngài căn cứ vào yếu chỉ kinh tạng Đại Thừa đốn ngộ: Duy Ma Cật, Viên Giác, Pháp Bảo Đàn… Về Tịnh độ, ngài y cứ vào các kinh Di Đà Đại Bổn, Thiền Môn Nhựt tụng mà ngài diễn dịch rất chu đáo để hướng dẫn đồ chúng trên đường tu học” [Thích Đồng Bổn 2002: 429]. 

Minh Đăng Quang đã kết hợp Bắc - Nam tông, trở thành vị Tổ đầu tiên của hệ phái Khất sĩ mang bản sắc Việt Nam. Ngài để lại bộ kinh Chơn Lý, gồm 69 tiểu luận, đúc kết căn bản giáo lý, phép luật của hệ phái Khất sĩ. Ngài “đã dung hợp những tinh hoa Phật pháp của cả Nam lẫn Bắc tông theo yếu chỉ trung đạo của Phật giáo. Theo đó, người Khất sĩ phải thực hiện đúng mục đích của hệ phái là: Trang bị tinh thần không mưu cầu tích trữ vật dụng, tiền bạc... không gia đình; mỗi sáng ôm bình bát đi khất thực, không ở nơi nào nhất định...” (2).

Người Việt miền Tây Nam Bộ cũng dễ dàng tích hợp Phật giáo với các tôn giáo khác và các tín ngưỡng dân gian. Tâm lý “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, “vái tứ phương, tám hướng” vốn không xa lạ với cư dân Bắc Bộ lại càng đậm nét đối với những lưu dân khi họ đến vùng đất mới nhiều khó khăn, thách thức, nhiều bí ẩn, hoang sơ, cộng cư cùng các chủng tộc khác với những niềm tin và thực hành tôn giáo, tín ngưỡng đa dạng.

Sự dung hợp ấy được phản ánh trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, như Trần Ngọc Thêm đã nhận xét: “Lục Vân Tiên xuất thân là Nho sinh, khi gặp nạn thì nương nhờ cửa Phật, được ông Cọp và Sóng Thần cứu giúp (tín ngưỡng dân gian), rồi cuối cùng được Tiên ông (Đạo) chữa mắt sáng lại”. [Trần Ngọc Thêm].

Các hình thức tôn giáo địa phương ra đời và phát triển ở Tây Nam Bộ đều lấy yếu lý nhà Phật làm căn bản, tổng hòa các giáo phái Phật giáo đồng thời kết hợp với những tư tưởng Nho, Lão trên nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đề xướng Tu Nhân Học Phật, trong đó, Học Phật là theo pháp môn Thiền Tịnh song tu, tùy duyên hóa độ. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tiếp tục tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương, thực hiện trì niệm theo Thiền tông; hành xử theo Nho giáo; luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo; ấn quyết thần chú theo Mật tông. Phật giáo Hòa Hảo phát triển, nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương, chủ trương tu tại gia hướng tới thành tựu Tây phương Cực lạc, nói cách khác, đã kết hợp Tịnh Độ tông và đạo Ông bà.

Chùa miền Bắc có một số trường hợp “tiền Phật hậu thần” thì chùa miền Tây Nam Bộ không hiếm khi là “tiền Phật hậu Mẫu”. Đối với những gia đình theo Phật thì ở Bắc Bộ, trong ngôi nhà truyền thống thường thờ Phật và thờ tổ tiên chung một bàn thờ. Trong khi đó, ngôi nhà miền Tây Nam Bộ lại thường có nhiều bàn thờ: 

(1) Ban thờ Phật. 
(2) Ban thờ tổ tiên. 
(3) Ban thờ thần Thổ địa, thần Tài. 
(4) Ban thờ Táo Quân. 
(5) Ban thờ thiên... 

Những nhà quan quyền, khá giả ở gian giữa thờ Phật, có khi thờ cả Quan Công, hai bên là hai ban thờ nội, ngoại thân thuộc bên chồng (bên trái) và nội, ngoại thân thuộc bên vợ (bên phải). Nhà thường dân thì ở giữa có bàn thờ tổ tiên, trên cao là trang thờ Phật và các vị thần độ mạng. Ban thờ Thần Thổ địa, thần Tài được đặt trên sàn, thường là góc trái trong nhà, với bài vị “Ngũ phương ngũ thổ Long thần”, “Tiền chúa hậu chủ Tài thần”. Dưới bếp thờ Táo quân với bài vị “Định phước Táo quân”. Trước sân có bàn thiên/bàn vọng thiên, không có mái che, thờ chư thiên chư Phật.

Cộng cư cùng người Hoa, người Khmer nên Phật giáo của người Việt miền Tây Nam Bộ ở đây cũng mang dấu ấn của giao lưu, tiếp biến những ảnh hưởng văn hóa Hoa, Khmer. Các chùa Linh Quang (Vĩnh Long), Linh Sơn (Long An), Bửu Sơn, Phật Quang (Sóc Trăng)... có miếu thờ Niek Tà, thờ ông Tà hoặc thờ thần Vishnu (thể hiện ảnh hưởng Khmer). Nhiều chùa lại thể hiện ảnh hưởng Hoa như chùa Bửu Sơn (Sóc Trăng) thờ Phật Mẫu Diêu Trì, Ngọc Hoàng Thượng Đế, trăm quan cựu thần, Kim Tinh Thánh Mẫu, Thập điện Diêm Vương, Quan Thánh đế Quân, chùa Phật Quang (Sóc Trăng) thờ Bắc Đế, Thần Tử Vi, Thần Quang Địa, Tam Hoàng, Bạch Hầu, Cửu Vị Tinh Quân, Thổ thần, Năm bà Ngũ hành, Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Tiên, Tỳ Lam..., chùa Hải Phước An Tự (Sóc Trăng) thờ Bà Mã Châu, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ, Bắc Đế, Quan Thánh Đế Quân... [Trần Hồng Liên 2004: 87]. Hòa thượng Thích Minh Đàng khi chủ xướng trùng tu chùa Vĩnh Tràng đã kết hợp kiến trúc ngôi chùa truyền thống Việt Nam với phong cách những ngôi chùa Khmer, chùa Trung Hoa, những sắc thái Champa, Thái Lan và cả dấu ấn mỹ thuật phương Tây (Pháp, La Mã).

Một số thành tố văn hóa nghệ thuật Hoa, Khmer cũng đi vào trong lễ hội ở các ngôi chùa của người Việt miền Tây Nam Bộ. Như lễ kỵ Tổ Khánh Anh tại chùa Phước Hậu (Vĩnh Long) có diễn xướng cả múa lân của người Hoa lẫn những bản nhạc cổ Khmer...

Các chùa người Hoa, người Khmer ở Tây Nam Bộ với những cách thức tu tập, những lễ hội đặc thù (như lễ hội Mừng Năm mới Chôl Chnam Thmay của người Khmer, những lễ Rước Ông, Rước Bà trong các ngày vía Bà Mã Châu, ông Quan Thánh...) cũng thu hút sự tham gia và phần nào cũng ảnh hưởng đến người Việt. Trong Hồi ký của Sơn Nam có kể một chi tiết cảm động: Khi Sơn Nam chia tay gia đình đi học xa, mẹ đã cầm tay căn dặn tình nghĩa của người đàn bà Miên trong xóm từng nuôi Sơn Nam cùng con ruột của bà bằng chung một dòng sữa, mẹ cũng từng theo bà ta mà cầu phúc cho Sơn Nam bằng những nghi lễ, phong tục Khmer: 

“Năm đó, ở chùa Khmer xứ Sóc Xoài, chùa linh lắm, bày ra lễ Chô Thơ Mo, trước bệ Phật, tại chánh điện, người ta đào một lỗ khá to, nói là trẻ con muốn điều gì thì cha mẹ nên bỏ xuống lỗ những món có ý nghĩa, như cây kim, sợi chỉ để con gái may vá giỏi khi lớn lên. Người giàu sang thì bỏ xuống đó vài lượng vàng, vài chiếc cà rá, kiếp sau sẽ giàu hơn kiếp này. Bữa đó, má bắt chước, nhờ Cà Xúc (tên của bà ta) mua cây viết, bình mực, cái tập giấy để cho con tới đó bỏ xuống, trước bàn thờ Phật, lấy phước trong cõi đời này. Người ta đi chùa đông lắm, ai tin trời Phật thì má cũng tin”. Bút danh Sơn Nam chính là gắn với ơn nghĩa sâu đậm này của người “mẹ nuôi” Khmer [Sơn Nam 2009: Hồi ký, tập 1, chương 2].

Xin dừng lại phân tích một thí dụ là lễ hội Bà Chúa Xứ. Nếu cư dân miền Bắc nô nức trảy hội chùa Hương thì cư dân miền Nam đi lễ Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, An Giang suốt nhiều tháng trong năm. Trong thực tế, Bà Chúa Xứ còn được dân gian gọi là “Phật bà núi Sam”. Nơi thờ tự Bà được gọi là “miếu” mà cũng được gọi là “đền”, “chùa”.

Về ý nghĩa hình tượng Bà Chúa Xứ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Toàn viết: “Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giày (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưga tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc... Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ Mẫu của người Việt”. [Nguyễn Đức Toàn 1994 :55]. Nhà văn Sơn Nam viết: “Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền”. [Sơn Nam 1985 : 149-150] và cũng lại viết: “Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ” [Sơn Nam 1992 : 40]. “Đây là dạng tu tiên, một dạng như Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên huyền nữ, hoặc Liễu hạnh công chúa...” [Sơn Nam 1987:157]. Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch (NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1995) thì lý giải: “Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian... Và bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa)” [tr 345-346].

“Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà (...), hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá, đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải)” (3).

Pho tượng vốn là tượng nam thần Vishnu thuộc nền văn hóa Óc Eo thế kỷ VI nhưng được thờ phụng như Phật bà đồng thời như thánh mẫu.

Lễ vía Bà, từ 23 đến 27 tháng 4 hàng năm, được cử hành với: 
(1) Lễ tắm Bà (lễ mộc dục). 
(2) Lễ thỉnh sắc (rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu, người có công khẩn hoang, xây kênh Vĩnh Tế, cùng hai phu nhân từ Sơn Lăng về miếu Bà). 
(3) Lễ túc yết (dâng lễ vật là con heo trắng) và lễ xây chầu (hát bội). 
(4) Lễ chánh tế. 
(5) Lễ hồi sắc (đưa sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân về lại Sơn Lăng). 

Lộc của Bà gồm hoa trái cúng Bà, nước dùng trong lễ mộc dục, y áo lụa là gấm vóc đã đắp cho Bà, được chia cho dân chúng, mọi người tin tưởng rằng sẽ đem lại may mắn, tài lộc cho cả năm. Nhiều người còn vay lộc Bà để làm ăn, khi thành công đến lễ tạ (như với bà Chúa Kho ngoài Bắc). Truyền thuyết, điện thờ, nghi lễ đều cho thấy sự tổng hợp của thờ Phật, thờ mẫu, tín ngưỡng tiền hiền hậu hiền, tín ngưỡng thần Tài, dấu ấn giao lưu ảnh hưởng cả Việt - Khmer - Hoa.

Đôi câu liễn trong miếu Bà:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị
Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường

Tạm dịch:
Cầu nhất định ứng, ban nhất định linh, báo cho trong mộng
(Người) Xiêm phải sợ, (người) Thanh phải kính, ẩn ý khó lường.

Tôn xưng quyền lực huyền nhiệm của Bà mà cũng tiết lộ sáng rõ tính tổng hợp tôn giáo, tín ngưỡng ở đây.

3. Phật giáo với tính mở, tính năng động, tính khai phá

Tính năng động của Phật giáo Tây Nam Bộ cũng thể hiện rất rõ. Trước hết qua phong trào chấn hưng Phật giáo, hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những thập niên 1920, 1930. Người đầu tiên phát sinh chí nguyện chấn hưng Phật giáo là Thiền sư Khánh Hòa (sinh ở Bến Tre), đã đi khắp các tổ đình ở Nam Kỳ kêu gọi các bậc tôn túc. Thiền sư Thiện Chiếu (sinh ở tỉnh Gò Công, nay là tỉnh Tiền Giang) năm 1927 ra cả Bắc Kỳ vận động nhưng không được hưởng ứng. Phong trào khởi xướng ở Nam Kỳ mà trước hết và chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long.

Những bậc tăng sĩ tiên phong, đóng vai trò thống lĩnh cũng như những cư sĩ ủng hộ nhiệt tình trong phong trào chấn hưng Phật giáo, đại đa số sinh ra, hoạt động và ảnh hưởng mạnh mẽ ở miền Tây Nam Bộ. Bên cạnh Thiền sư Khánh Hòa, Thiền sư Thiện Chiếu đã nhắc đến ở trên, là Thiền sư Pháp Hải (sinh ở Sa Đéc), Thiền sư Trí Thiền (sinh ở Rạch Giá)..., những cư sĩ hữu tâm như Phạm Văn Liêm, Nguyễn Văn Khỏe, Phạm Văn Luông, Nguyễn Văn Thọ, Huỳnh Thái Sửu, Ngo Trọng Tín, Trần Văn Giác, Thái Phước, Thái Khanh, Lữ Long Giao, Nguyễn Văn Nhơn... (phần lớn sinh ở Trà Vinh).

Các vị tăng nổi bật của phong trào đều đọc rộng, hiểu biết phong trào chấn hưng Phật giáo ở khu vực và trên thế giới và vận dụng trong chấn hưng Phật giáo miền Tây Nam Bộ. HT.Thích Thiện Chiếu “giỏi chữ Nho, chữ Quan thoại, chữ Pháp”, tiếp xúc với các trào lưu văn hóa phương Tây, tân thư của Trung Hoa, Nhật Bản…; HT.Thích Huệ Quang đọc sách tân thư, tìm hiểu kinh nghiệm chấn hưng Phật giáo của Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia; HT.Thích Chánh Hậu, vốn gốc Minh hương, cũng tiếp thu ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc.

Phong trào nhằm ba mục tiêu lớn: 

(1) Chỉnh đốn tăng già. 
(2) Kiến lập nhiều Phật học đường. 
(3) Diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt ngữ. Ba mục tiêu này quan hệ chặt chẽ với nhau, đặt trọng tâm trên việc nâng cao trình độ tu học của tăng sĩ, mở mang tâm trí của phật tử, tín đồ.

Nhiều Hội Phật học ra đời, hoạt động thường triển khai những Phật học đường, đồng thời thành lập những tạp chí, nguyệt san Phật học, những nhà xuất bản, nhà in của Phật giáo. Nhiều danh tăng đã tham gia xây dựng, quản lý, giảng dạy, đóng góp bài vở... cho những cơ sở nghiên cứu - giáo dục - xuất bản này. Pháp Âm là tập san Phật học bằng Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, đặt cơ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho năm 1927, ra số đầu tiên năm 1929. 

Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập năm 1931, ra mắt tạp chí Từ Bi Âm số đầu tiên năm 1932. Trụ sở hội và tạp chí lúc đầu đặt ở Sài Gòn, nhưng sau đó Thiền sư Khánh Hòa chuyển hoạt động về Trà Vinh. Thích học đường được xây dựng ở Sài Gòn nhưng mãi đến năm 1934 vẫn chưa khai giảng được do thiếu sự thống nhất trong ban tổ chức và những người tài trợ. 

Thiền sư Khánh Hòa phải tổ chức Liên đoàn Phật học xã, mở các Phật học đường lưu động lần lượt tại các chùa Long Hoa, Thiên Phước (Trà Vinh), Viên Giác (Bến Tre). Hội Lưỡng Xuyên Phật học cũng đóng trụ sở tại Trà Vinh năm 1934, do Thiền sư An Lạc, chùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang) làm hội trưởng, tổ chức Phật học đường khai giảng cuối năm 1934, thành lập tạp chí Duy Tân năm 1935. 

Thiền sư Thiện Chiếu cùng Thiền sư Trí Thiền thành lập Hội Phật học kiêm tế ở Rạch Giá năm 1936, ra số đầu tiên của tạp chí Tiến Hóa năm 1938. Hội này cũng mở ở đây cô nhi viện Phật giáo được tổ chức theo kiểu Tây phương đầu tiên của Việt Nam. Ở Tây Nam Bộ cũng có những nhà xuất bản, nhà in của Phật giáo như Hương Đạo... Ưu thế của kỹ thuật in ấn, phát hành hiện đại của phương Tây đã được các tổ chức Phật giáo tận dụng để tăng sức mạnh truyền bá giáo pháp, truyền bá tri thức. Miền Tây Nam Bộ đã sớm đến với chữ Quốc ngữ, báo chí, in ấn phần nhiều do những đóng góp như vậy của các vị danh tăng trong phong trào chấn hưng Phật giáo.

Đặc biệt quan tâm đến việc thỉnh kinh, dịch kinh, soạn kinh, học tập kinh sách cũng là một nét nổi bật của Phật giáo người Việt miền Tây Nam Bộ. Trong phong trào chấn hưng Phật giáo, cư sĩ phật tử nhiều nơi, dưới sự vận động và tổ chức của các danh tăng, đã thỉnh và hiến cúng Tam tạng kinh (Tháng 8 năm 1929, các đàn việt thiện tín Trà Vinh chung sức hiến cúng bộ Đại tạng toàn bản, gồm có 750 quyển lớn, tôn trí tại chùa Linh Sơn để làm tài liệu cơ bản cho việc nghiên cứu...). 

Phật giáo Tây Nam Bộ có rất nhiều danh tăng (15 vị) kiên trì dịch kinh ra Quốc ngữ, biên soạn các kinh sách, để lại tổng số công trình nhiều hơn gấp nhiều lần so với danh tăng các khu vực khác. HT.Tịnh Sự dịch hoàn thành bộ Tạng luận Pali. HT.Hộ Tông là Tổ khai sơn của Phật giáo Nam tông người Việt, để lại 16 kinh sách mà ngài phiên dịch và biên soạn. HT.Bửu Chơn để lại 19 kinh sách. HT.Thích Thiện Chiếu ngay cả khi nằm trên giường bệnh suốt 3 năm vẫn tiếp tục viết sách, để lại sự nghiệp trước tác 12 cuốn, nhiều cuốn được giới thanh niên, trí thức quan tâm, hứng thú vì những tư tưởng sâu sắc, mới mẻ. Ngài còn viết nhiều bài tranh luận với các nhà Tây học trên báo chí, nhiều nhất là ở báo Tân Phong. Trong khi đó, so với miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ rất ít các trí thức Nho học danh tiếng. Từ sự thịnh phát mạnh mẽ hơn của Phật học ở chính vùng này, có thể gợi suy nghĩ về học phong của miền Tây Nam Bộ, có lẽ cư dân ở đây đã hướng đến cái học, phần nhiều không để thi thố mà muốn thực sự giúp đời chăng?

Phong trào chấn hưng Phật giáo như vậy đã khởi phát từ Tây Nam Bộ, phát triển với vai trò thống lĩnh của Tây Nam Bộ, sau đó có ảnh hưởng đến Đông Nam Bộ và rồi Trung Bộ, Bắc Bộ. Trong phong trào này, có thể nhận diện Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học như đại diện cho các phái thiên hữu, trong khi đó Hội Phật học Kiêm tế đại diện cho các phái thiên tả. Lập trường Duy Tân, Tiến Hóa được chia sẻ bởi nhiều phái, như tên các tạp chí của họ cho thấy.

Đến như những phái thiên tả thì tư tưởng của những người thủ lĩnh, những người phát ngôn thực là táo bạo. Thiện Chiếu, chủ soái của Phật học Kiêm tế chẳng hạn, năm 1932 đã viết: “Đau đớn thay! Lạ lùng thay! Muốn bênh vực cho rằng Phật giáo không phải là một đạo mê tín hoang đường, thì sờ sờ ra đó biết bao nhiêu là việc huyền hoặc dị đoan! Muốn bào chữa cho Phật giáo không phải là một đạo hữu thần, thì nhan nhản ra đó cũng cầu xin cũng chuộc tội, có khác nào những kẻ ỷ lại thần quyền! Muốn khoe Phật giáo là một đạo cứu đời thì hàng phật tử (nếu) không phải chán đời mà lên non ẩn dạng ắt cũng ích kỷ chỉ lo quanh quẩn trong gia đình, chớ không biết gì đến công ích xã hội cả! 

Muốn nói Phật giáo là đạo thoát khổ, thì người có theo đạo có làm đạo cũng buồn rầu khiếp sợ, cũng theo hoàn cảnh mà đổi dời, cũng cực khổ lầm than, chỉ cứ trông đợi kiếp sau chớ không biết ra tay mà cải tạo! Như vậy bảo sao Phật giáo không tiêu diệt theo các tôn giáo trước khi thế giới đại đồng cho được? Thế thì người có nhiệt tâm với nhân loại quần sanh - phải lo tìm phương bổ cứu, duy trì, hay chỉ khoanh tay ngồi ngó và than vắn thở dài mà thôi?”. “Nếu thiệt có lòng muốn bổ cứu, duy trì Phật giáo là một chiếc thuyền tế độ ở giữa biển khổ sông mê, không nỡ để cho tiêu diệt theo các tôn giáo khác, thì chẳng những Giáo hội (hay hạng người xuất gia), phải nghiên cứu Phật giáo, phát dương những ý hay nghĩa lạ ra cho thích hợp với chỗ nhu yếu của nhơn sanh, dẹp bỏ hết các việc mơ hồ trái lẽ, chớ quá chấp nê theo hủ tục, mà tín đồ (hay hạng người tại gia) cũng phải làm cho tròn cái bổn phận của một người tín ngưỡng Phật giáo, một cách chơn chánh, cũng phải kiểu chánh lại những chỗ sai lầm của Giáo hội (vì Giáo hội hiện thời là một Giáo hội hư hèn, không có trật tự), chớ nên vì ý riêng, vì tình cảm mà chia phe lập đảng, tin bướng theo càn. Được như vậy thì cái yến sáng Phật giáo mới mong chói lọi ở Đại Đồng thế giới sau này”. (4)

Tiến Hóa, tạp chí của Phật học Kiêm tế, thì công bố hiển ngôn rõ ràng sẽ tuyên truyền không chỉ cho Phật học mà còn cho “bất cứ học thuyết nào có đủ phương pháp làm chúng sinh khỏi khổ được vui”, tất cả những học thuyết nào từ bi bác ái đều được xem là “Phật pháp” cả. Tiến Hóa chủ trương: (1) Phật tử phải học các khoa học để có sự giác ngộ mới, hiểu nguyên nhân những đau khổ của con người nằm trong kinh tế, chính trị - xã hội; hiểu rằng không có cõi Cực Lạc ở Tây phương; (2) Phật Thích Ca là bậc đại giác trong thời của Ngài nhưng “tri thức của Phật hồi ấy không thể bằng tri thức của toàn thể nhân loại sau này”.(5)

Chúng ta đã đề cập tính mở, tính năng động của Phật giáo miền Tây Nam Bộ qua dẫn chứng tiêu biểu nhất là phong trào chấn hưng Phật giáo. Còn có thể có những dẫn chứng khác. Như là công cuộc khôi phục Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX, trong ba vị tăng có vai trò nổi bật nhất là  Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Duy Lực và Thiền sư Nhất Hạnh, thì hai tên tuổi đầu tiên là các vị sinh ở Cần Thơ. Hòa thượng Thích Thanh Từ xây dựng Thiền phái Trúc Lâm Phụng Hoàng, theo đường lối Thiền Giáo song hành, dùng thiền để soi sáng kinh, dùng kinh để ấn chứng thiền. Hòa thượng Thích Duy Lực chủ trương tu Thiền theo lối tham thoại đầu.

Hoặc khảo sát từ công trình TSDTVN, ta cũng thấy nét năng động thể hiện rõ qua hành trạng các vị danh tăng miền Tây Nam Bộ. Quá trình tham học của nhiều danh tăng là quá trình vân du qua các ngôi chùa lớn ở nhiều địa phương, học với nhiều vị cao tăng thạc đức, khắp các tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Bộ, ra cả miền Trung, miền Bắc, như những con ong cần mẫn, nhờ đó hút được tinh hoa Phật pháp từ nhiều nguồn uy tín.(6)

Quá trình hoằng đạo của nhiều danh tăng cũng trải rộng qua nhiều tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Bộ, ra cả miền Trung. Năm 1957, HT.Thích Thiện Hoa chủ xướng và trực tiếp giảng dạy các khóa học mang tên Như Lai sứ giả huấn luyện trụ trì, các khóa huấn luyện tăng ni trở thành giảng sư có thể đi diễn giảng khắp nơi. Nhiều thế hệ tăng ni đã trưởng thành từ những khóa học đó, đi truyền giảng nhiều địa phương, đúng theo tinh thần Phật giáo “mang đến mọi người món quà lớn hơn mọi món quà là Phật pháp”.

Không chỉ như vậy, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của nhiều vị danh tăng miền Tây Nam Bộ còn mở rộng ra nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. HT.Thích Huệ Pháp trên đường tầm sư học đạo đã sang Campuchia, Lào, Thái Lan suốt 10 năm, học những tinh hoa Phật pháp Nam tông và cả những bí pháp của họ. Tổ Minh Đăng Quang thoạt tiên cũng sang Campuchia học Phật pháp 4 năm. HT.Hộ Tông học tập Phật pháp ở Campuchia, trở về xây dựng Tổ đình Bửu Quang (tại ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, huyện Thủ Đức, Sài Gòn) là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nam tông người Việt. HT.Tịnh Sự học Phật pháp ở Campuchia, học tiếp ở Thái Lan 7 năm. HT.Thích Huệ Pháp đã dựng ngôi chùa Việt Nam đầu tiên tại Lào, HT.Tịnh Sự dựng chùa ở Campuchia cho Việt kiều tu tập. HT.Thích Huệ Hưng sang Campuchia giảng dạy Phật pháp. HT.Thích Thiện Quảng trong chuyến hành hương qua xứ Phật, đã được vua Thái Lan ngưỡng mộ đạo hạnh, xây cất chùa riêng cho ngài và ngài đã ở lại hàng chục năm, hỗ trợ việc hoằng đạo cho Phật giáo Thái Lan. HT.Thích Huệ Pháp 10 năm vân du hóa đạo ở Lào, Campuchia, mang kinh sách sang tặng hai vương quốc này, góp phần “gieo giống Bồ đề khắp ba nước Đông Dương để Phật giáo được hoằng dương rộng rãi”. HT.Thích Duy Lực hoằng dương Thiền học tại Mỹ, Canada, Úc, Hồng Kông, Đài Loan…

Tính tổng hợp, tính năng động, tính mở của miền Tây Nam Bộ thể hiện thật rõ nét trong văn hóa Phật giáo ở đây. Có thể nói, Phật giáo miền Tây Nam Bộ mang tính khai phá, chứ không chỉ giữ gìn truyền thống.

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 13/03/2012
(Hội thảo khoa học “50 năm phong trào đấu tranh Phật giáo (1963-2013)”)

PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền (Trường ĐHKHXH & NV - ĐHQG TP.HCM) (còn tiếp)

Ý kiến phản hồi









 Refresh