Cập nhật lúc 13:30 24/05/2017 (GMT+7)

Có nên choàng thêm y áo cho các tôn tượng hay không?

(PGVN)

Đến ngày lễ vía 19/2, ngày 19/6, 19/9 (Âm lịch), sự tổ chức lạy Ngũ Bách Danh Quan Thế Âm, đồng thời nhân buổi lễ này lúc nào cũng khuyên chư tín đồ phật tử người Hoa, người Việt không nên cúng áo choàng đức Bồ Tát Quan Âm lộ thiên, vì khi tạc tượng nhà điêu khắc cũng đã chạm áo cho thánh tượng rồi, làm như thế cũng rất hao tốn tiền bạc.

Hỏi: Hiện nay, việc điêu khắc tượng Phật rất dễ dàng và hầu như các chùa đều tôn trí an vị rất nhiều tượng Phật, thậm chí cả vườn tượng Phật. Theo con được biết khi tạc tượng Phật đều đã có y áo cho các Ngài. Tuy vậy, rất nhiều chùa con thấy tại sao lại phải khoác thêm y áo bên ngoài cho các vị Phật? Con có nghe một vị giảng sư nổi tiếng có nói rằng việc làm ấy là không đúng, là thế tục hóa đức Phật. Con lại nghe rằng một số chùa bắt chước hình tượng thờ Phật Mẫu hoặc trong các tín ngưỡng dân gian đền chùa thường khoác y áo cho các vị thánh thần đến ngày lễ mang xuống tẩy trần y rồi khoác lên. 

Có người bảo chỉ là tùy thuận chúng sinh để họ có phước chứ chùa không khuyến khích cũng không bài trừ. Tuy nhiên, nếu đó là việc làm không đúng, là việc làm dư thừa, chùa lại là nơi chuẩn mẫu trong việc thờ tự nhưng tượng Phật nào cũng khoác y áo con thấy quá ư phản cảm. Thêm vào đó, một số phật tử nhầm tưởng không hiểu lại nghĩ rằng khi thờ tượng Phật phải thêm y áo bên ngoài nên nếu có thờ tượng ở nhà lại phải khoác y cho đức Phật. Quả thật con nhìn thấy các tượng Phật không bị khoác y áo luôn có cảm giác thanh cao, thoát tục, đúng tính chất là một bậc giác ngộ vô thường. 

Mỗi lần đến các chùa thờ quá nhiều tượng Phật hay bị khoác y áo khắp nơi, con cảm thấy không hề thoải mái và có cảm giác tù túng, bực bội. Nếu nói tùy thuận chúng sinh thì chỉ tùy thuận một số vị, còn lại vô tình khuyến khích người khác nghĩ tưởng đó là việc tốt liên tục dâng y cúng dường, gây sự bực bội cho các phật tử khác. Như vậy chỉ tùy thuận một số người và lại gây lầm tưởng, khó chịu cho người khác thì ích lợi gì? Chưa nói gây thêm sự phung phí tốn kém không đáng có. Con phân vân với những suy nghĩ trên và thật sự là chùa nào thờ Phật khoác y là con không muốn vào. Xin Sư khai mở tâm con.

Trả lời:

I . Thờ phụng

Thờ phụng là tôn trọng kính thờ lẽ ra chúng ta không có ý kiến với các tự viện, vào tự viện để tâm niệm Phật và bước vào thềm thang trong hành trình giải thoát, buông thả tâm tư theo dòng chảy thanh lương, dứt nghĩ suy dưới ánh sáng Phật Đà, dừng tất cả mà trầm tư trong tĩnh lặng.

Thưa các bạn có thấy không như Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (470-573) là con người thật được sinh ra trong thế gian, tên thật là Bồ Đề Đa La, là thái tử nước Hương Chí, Nam Ấn Độ đi tu. Khi Ngài đắc đạo được tôn vinh phụng thờ từ đó đến nay các chùa, các hệ phái đều phụng thờ tại tổ đường. Có lúc nhà điêu khắc tượng Tổ sư ngồi, có khi tượng Tổ sư đứng quảy một chiếc giày, có khi không và khoác lên Ngài một chiếc áo choàng hay tấm vải choàng, có người họa tấm choàng màu vàng, có người làm áo choàng màu trắng hay xanh, có lúc màu nâu, đỏ hay đen tùy theo tín ngưỡng, cương giới mỗi địa phương vậy thôi. Mặc dù trải qua nhiều thế hệ các vị trụ trì, họa sĩ, điêu khắc gia không ai biết Ngài tịch diệt ở đâu? Nhưng khi tôn trí tất cả đều nhất trí phụng thờ miễn tượng đó đúng là Bồ Đề Đạt Ma.
 
Vườn tượng Phật

Ở các nước tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Tây Tạng nhiều tự viện thật lớn, đúc nhiều tượng Phật, Bồ tát, nuôi cả ngàn, mười ngàn, hàng vạn tăng ni tu hành, như: chùa Borobodur (Candi Borobodur) Magelang Java, chùa Lãng Vân Đại Phật, đô thị Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, chùa Thiên Đàn Đại Phật, Đại Dữ Sơn, Hồng Kông, Trung Quốc, Học viện Phật giáo Larung Gar (Tây Tạng), chùa Sanjusengando, 33 gian Kyoto, chùa Todaiji, Nara, Nhật Bản, chùa Phật Quang Sơn, làng Đại Thọ, Cao Hùng, Đài Loan, chùa Geumsansa, xây dựng năm 556, Hàn Quốc.

Ở Việt Nam một số lớn tự viện theo hệ thống Bắc truyền, Khất sĩ có thờ nhiều thánh tượng Phật, Bồ Tát, Thánh hiền, các bậc tiền hiền hậu hiền, có chùa thờ trăm Phật ngàn Phật, như chùa Trăm Gian, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội; chùa Cổ Lễ, thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, Nam Định, thờ Phật lẫn cả thờ Thánh, quan lại có công với Phật pháp; chùa Bái Đính, Ninh Bình; Quan Âm Tu viện; Tổ đình Long Thiền; Tịnh xá Ngọc Uyển, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa; chùa Phật Tích Tòng Lâm, xã An Phước, huyện Long Thành; chùa Long Phước Thọ, xã Long Phước, huyện Long Thành, Đồng Nai; Tịnh xá Thắng Liên Hoa, xã Hiệp Hòa, Biên Hòa; Tịnh xá Ngọc Long, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.

Việc đúc và thờ nhiều tượng Phật là do ý tưởng mở rộng sự tín ngưỡng chiêm bái đối với tín đồ phật tử trong nước và ngoài nước. Thay vì mở mang hoằng pháp, giáo dục giúp tín đồ tập trung nghe thuyết pháp, học Phật pháp tại giảng đường, trụ trì các tự viện cũng không quên phát huy văn hóa Phật giáo, những nét chấm phá về di tích lịch sử của đức Phật, những hạnh lành của các đức Bồ tát, những công trình tu chứng của các bậc A La hán... Xuất phát từ ý tưởng này mà các tự viện đúc xây thêm nhiều tượng Phật tại các huê viên phạm vi nội viện, dành cho tín đồ chiêm ngưỡng. Việc này thì đại đa số tín đồ Việt Nam đều nhất trí.

Phát huy xây dựng tự viện để truyền bà giáo lý, đào tạo tăng ni nối thừa Phật pháp khiến cho Chánh pháp hằng còn, đúc tượng Phật, Bồ tát để có nơi chiêm bái cho hằng trăm triệu tín đồ Phật giáo trên thế giới, việc làm này không nên hạn chế. Nhất là ở khu vực Á châu, các quốc gia Đông Nam Á và Đông Bắc Á là việc tối cần, nhằm để bù vào lổ hổng biến cố thời kỳ Phật giáo bị hủy diệt tại Viện Đại học Phật giáo Nalanda, lúc bấy giờ một đội quân Hồi giáo người Turk do Bakhtiyar Khilji chỉ huy tàn phá vào năm 1193. Thư viện của Viện Đại học lớn đến mức mất đến ba tháng mới cháy hết khi nó bị những kẻ xâm lăng châm lửa đốt, tàn phá các tự viện, và đuổi các tu sĩ ra khỏi khu đại học. 

Những cảnh bắn phá tàn nhẫn vào hai tượng Phật lớn nhất thế giới tại quận Bamiyan, tỉnh Kandahar, do Chánh quyến Taliban chỉ huy. Cảnh hủy diệt thánh tượng Phật của người Islam, cảnh phá chùa ở khu vực Mes Anynak, của các Công ty khai thác mỏ đồng Trung Quốc (Linh Sơn Phật giáo - Ngọc Hằng dịch), cảnh phá bỏ Học viện Phật giáo Larung Gar - Tây Tạng, nơi có 40.000 tăng ni tu học..

Vườn tượng Phật ở Việt Nam chẳng là bao, so với việc tự viện Phật giáo bị đập phá, tạo nên những mất mát to lớn về mặt lịch sử Phật giáo, từ trí tuệ bị hủy hoại, lẫn vật chất bị hủy diệt, chúng ta cần có những hành động để đóng góp trí tuệ, vật chất cũng như công sức cho các công trình hơn là phê phán việc xây chùa to, tạo Phật lớn hay xây vườn tượng Phật quy mô.

Mũ, áo của các thánh tượng

(Trích) Trong các vị Bồ tát, Quán Thế Âm là vị được thể hiện với nhiều hình thức nhất và cũng được nhiều người sùng bái nhất trong điện thờ Phật giáo Đại thừa Trung Quốc. Về nguyên gốc, Quán Thế Âm ở Ấn Độ là một hình tượng nam giới, nhưng vì có những đức tính thuộc về người phụ nữ như: lòng từ bi, tính dịu dàng phù hợp với tín ngưỡng thờ “Mẫu” của Trung Quốc nên sau khi qua Trung Quốc được chuyển hóa thành nữ giới và được thờ phụng, sùng kính như là một vị nữ Phật có quyền năng siêu việt.
 Tượng Bồ tát Quan Thế Âm luôn được đúc sẵn mão, áo choàng
Quan Thế Âm Trung Quốc được diễn tả với nhiều hình thức khác nhau như: Quán Thế Âm tay cầm cuốn kinh sách (Bảo tàng lịch sử - Tượng Phật các nước Châu Á.3690); Quán Thế Âm Nam Hải đứng trên mình rồng, tay cầm bình cam lồ cứu nạn, Quan Thế Âm trong hình tướng nữ tiên, một tay cầm giỏ cá, hai bên có hai vị đệ tử Thiện Tài và Long Nữ (Bảo tàng lịch sử - Tượng Phật các nước Châu Á,985). Quan Thế Âm ngồi thiền, Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Chuẩn Đề Phật Mẫu… Đặc biệt là Quan Âm tống tử vừa mang nét dịu dàng của người mẹ vừa mang đặc điểm của tín ngưỡng thờ “Mẫu” của người Trung Quốc. Quan Âm tống tử thường được những phụ nữ Trung Quốc hiếm muộn đến cầu khấn để mong sớm có con trai nối dòng.

Tượng Quan Âm tống tử trong tư thế ngồi, xung quanh là sóng nước cách điệu. Hai tay bế một em bé trước ngực cả hai cùng nhìn về một hướng. Tượng mặc áo choàng, đầu trùm một tấm khăn. Phía sau là vầng hào quang cách điệu ngũ nhạc, một bên có chiếc bình cắm cành dương, một bên là con chim chầu (hết trích). Tượng Quan Âm tống tử và các tượng Bồ Tát Quan Âm khác luôn được chạm khắc sẵn mão và áo choàng.

Nói về việc đội mão thì theo hệ thống thờ phụng cách đây 1000 năm (thời Tùy, Đường), Trung Quốc; thời Lê - Nguyễn, thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII tại Việt Nam thánh tượng các chùa có đội “mão” phủ từ đầu xuống đến vai lưng, như ở Tổ đình Linh Sơn, chùa Bửu Sơn (Nam Bộ), các chùa ở miền Bắc Việt Nam, các chùa theo đạo thờ Mẫu, một số chùa xưa ở Trung Bộ và Nam Bộ, làm cho mọi người nhìn không biết là gì và có tâm trạng kính sợ, khi hỏi thì được nhà chùa cho biết là “mũ ni”?

Mũ (mão) Phật Quang, theo sách “Bửu Đỉnh Hằng Tri Bí Yếu Chỉ toàn chương” đời nhà Trần có đề cập đến mũ Phật Quang, nhưng chỉ điểm qua chứ không có vẽ ra hình dạng như thế nào. Y mão là sự truyền thừa, chúng đệ tử y cứ làm theo, chứ không có hình vẽ hay mô tả gì (Giác Ngộ Online, Pháp phục Phật giáo Bắc tông – HT.Thích Trí Tâm, Trưởng ban Nghi lễ Trung Ương GHPGVN - bài của Giang Phong, Nguyệt san Giác Ngộ số 170)

Công dụng chính của mão Quan Âm là mão đội trên đỉnh đầu Bồ tát Quan Âm nên gọi là mão Quan Âm. Mão Quan Âm thể hiện lòng từ bi cứu khổ chúng sinh bằng phước trí, theo hạnh nguyện tầm thanh cứu khổ của Bồ tát Quan Âm. Các bậc đại sư truyền giới, đội mão Quan Âm khi đăng đàn, trong Tam Đàn truyền Bồ tát giới, giới sư trên cương vị đại diện Phật tuyên dương, vì ở đàn này Thập sư Hòa thượng là chư Phật và Bồ tát cho nên đội mão có ý nghĩa tôn kính, cung thỉnh Phật Bồ tát lâm đàn truyền giới.(Việc đắp y đội mão trong giới đàn Phật giáo Bắc truyền - Thích Tâm Mãn)

Hình dạng “mão Quan Âm” như hình cánh sen dài rộng, khi đội phủ đến vai, lưng được may bằng nguyên liệu vải lụa vàng, tố gấm, có khi là màu nâu, màu xanh, đỏ, khi đội lên tượng Phật thì chỉ may lụa màu vàng.

Truyền thống đội mão cho các thánh tượng, phải chăng là tiền đề cho những tín đồ cúng áo choàng lên kim thân Bồ tát Quan Âm lộ thiên ngày nay?

II. Sự tín ngưỡng

Tín ngưỡng tôn giáo thuộc về tâm linh, trong quá trình hội nhập từ bậc xuất gia cao tăng đến hàng cư sĩ khi nghĩ đến việc gì thì làm việc nấy, vì xuất phát từ tâm quyết nên các vị đều cho là đúng, dù có phù hợp hay không với đại chúng và đôi khi yêu cầu đại chúng phải tùy thuận? Người Việt ta có nhiều tín ngưỡng lạ kỳ, các tín ngưỡng đó lại trở thành những nét văn hóa của xứ sở hoa sen, sống động về tâm linh, mộc mạc chân phương và rất hồn quê dân tộc.

Trước nhất ta phải nói đến việc thờ ông bà, trên bàn thờ bao giờ cũng cao ráo, dành cho việc cúng giỗ chạp, phía trước là bộ lư và chân đèn đồng, phía sau dưới là bát hương mà người xưa gọi là “vùa hương”, có đặt ba chun nước để cúng ông bà gọi là “bát nước”, gộp chung lại gọi là “vùa hương bát nước”. Người chủ nhà này là con trưởng nam của dòng họ có trách nhiệm cúng giỗ ông bà hằng năm. Trưởng nam cũng là người con lớn trong gia đình, cũng có khi cha mẹ sinh con toàn là gái, chỉ có cậu con út hay con thứ là người nam cũng gọi người con út con thứ đó là trưởng nam, có quyền quản lý ngôi nhà chung, thờ cúng ông bà. 

Nói đến bàn thiên, phía trước nhà, tức là bàn lộ thiên là loại bàn không thờ ai cả mà người ta vẫn làm thật đẹp để dâng hương, cúng quảy và rất trân trọng và xem như là bộ mặt nổi bật nhất của nhà cửa và gia đình. Đến việc thờ Thầy giáo dạy học, tại các thôn ấp có xây cất một cái nhà lá mỗi cạnh sáu mét vuông, thôn ấp giàu thì làm nhà gạch lợp ngói gọi là miễu Tiên Sư. Từ năm 1957 trở về trước gọi là miễu Tiên Sư tức là thờ ông Thầy giáo đầu tiên dạy cho ta biết chữ, biết nhận định cái nhà, chén cơm, tấm áo... Từ năm 1958 trở đi thì dân ta dùng miễu Tiên Sư làm “nhà canh” canh trộm cướp, đến chiến tranh Việt Mỹ thì không còn thờ phụng nữa. 

Trong làng còn có miễu thờ năm bà gọi là ngũ hành nương nương, năm mẹ ngũ hành, thờ triết lý tương sinh tương khắc (năm bà gồm có bà Kim Tinh thần nữ, bà Mộc Tinh thần nữ, bà Thủy Tinh thần nữ, bà Hỏa Phong thần nữ và bà Thổ Đức tiên nương). Bà con trong làng còn thờ quý bà chúa Tiên, chúa Ngọc, chúa Xứ, lập miễu thờ Ông Hổ dù họ không biết “Bà” hay “Cọp” ở đâu nhưng vẫn thờ theo tín ngưỡng, thờ ông Táo, ông Địa, ông Lò, thờ phụng thật khác lạ mà vẫn thờ gọi là “xưa bày nay vẽ”.

Họ quan niệm thờ năm bà giúp an cư lạc nghiệp, thờ cọp giữ xóm làng không có trộm cướp xảy ra. Thỉnh thoảng có Bà Cụ nào chết, có công với làng nước thì lấy tên của Cụ Bà gắn liền với địa danh đó, như Bà Quẹo, Bà Điểm, Bà Rịa, Bà Chiểu, Bà Hom, Bà Tô... Bà thì nhiều Cụ Ông thì hiếm thấy. Việc thờ vô phương vô hướng, thờ khống vậy mà chịu thờ chịu váy lạy, không phê phán?

III. Việc choàng áo lên tượng Bồ tát

Tín ngưỡng là tình cảm cúng bái, hiến dâng; trí tuệ đưa ta đến giải thoát phiền não khổ đau, đưa con người từ thế giới thấp hèn đến thế giới cao thượng. Sự tín ngưỡng chư vị Tổ sư, giới sư truyền giới, trong thế gian còn có sự tín ngưỡng phụng thờ thần thánh theo tập tục, những chuyện thờ phương khống (bàn thiên ở khắp ba miền) mà mọi người còn tin tưởng và tôn vinh một cách tuyệt đối. Huống gì việc cúng dường áo choàng thánh tượng Bồ tát Quan Âm theo Sư nghĩ không có gì phải nghĩ suy hay lạ lẫm.
 Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Việc phủ áo choàng lên thánh tượng là do ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Quốc, sự pha trộn tín ngưỡng, người tín đồ Phật tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn (Bắc Bộ), tín ngưỡng Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Trung Bộ), thờ Địa Mẫu (Nam Bộ), Bà Linh Sơn (Linh Sơn Tiên Thạch Tự, Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (Châu Đốc, Bình Dương) lúc nào cũng được cúng áo đẹp và choàng qua vai, phủ lên thánh tượng huống chi tượng Bồ tát Quan Âm là bậc đáng tôn kính hơn các bậc trên tại sao không được cúng, nên họ phát tâm cúng dường áo cho tượng đức Bồ tát. 

Đồng thời với lòng kính ngưỡng họ nghĩ đến mùa mưa gió sợ thánh tượng bị mưa bão xâm thực nên phát tâm cúng dường, người cúng không nghĩ đến đúng sai, đúng chính pháp hay không Chánh pháp, đúng với lời Phật dạy hay không đúng... vô tư mà cúng và muốn được áo của mình cúng choàng cụ thể qua thánh tượng Bồ tát, để xin cầu cho tật bệnh tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, thế giới hòa bình, vạn dân an lạc. Với tấm lòng của người tín đồ như thế chúng ta nghĩ sao về họ? Ở đây chúng ta không bàn đúng sai với người cúng dường áo choàng thánh tượng, xin nói chỉ cúng dâng các thánh tượng Bồ tát lộ thiên, chứ tượng Phật thờ trong Chánh điện thì không bàn đến và cũng không ai cúng áo choàng bao giờ.

Việc cúng dường áo choàng thánh tượng đức Địa Tạng Bồ tát, Quan Âm Bồ tát ở Quan Âm Tu viện, một số tự viện lớn, tượng lộ thiên khắp nẻo đường đất nước là do người Hoa phát tâm cúng dường, về sau ảnh hưởng lớn đến người Việt. Tuy nhiên việc cúng dường áo choàng thánh tượng đức Bồ tát luôn có giới hạn và chỉ đối với các thánh tượng lộ thiên. Họ là những phật tử thuần túy có tu học Phật pháp, thích làm việc thiện và rất quý trọng việc làm của mình, khi cúng họ dâng hiện vật bằng vải lụa kim tuyến, vải satin, vải the...

Hiện nay nhiều phật tử trí thức, thuần túy tu hành đã lên tiếng không nhất trí với việc mặc thêm áo choàng bên ngoài thánh tượng Bồ tát. Mặc thêm áo như thế là không đúng, trang trí thờ phụng giống các chùa Trung Quốc, các chùa núi Bà Tây Ninh, chùa Bà núi Sam, chùa Bà Bình Dương, chùa Thầy Thím (Bình Thuận), chùa Dinh Cố (Bà Rịa - Vũng Tàu), tín ngưỡng thờ “tiên cô, thánh cô”. Đây là tín ngưỡng pha trộn “Tàu Việt” không đúng lễ nghi Phật giáo chính thống.

Hạnh nguyện Bồ tát lợi tha như Quan Âm Bồ tát có khi cũng phải khổ hạnh vì sự quan tâm quá mức của người tín ngưỡng. Bên Trung Hoa vào thời đại nhà Đường (618-907), trong quá trình thờ phụng, danh hiệu của Quan Âm Bồ tát bị xúc phạm, như Quan Âm nói cho đủ là Quan Thế Âm, nhưng vì sợ phạm với “chữ lót tên” của vua Đường là Lý Thế Dân, nên người tín đồ đọc danh hiệu Quan Thế Âm chỉ còn là Quan Âm hay Quan Âm Bồ tát (Bách khoa toàn thư mở).

Việc thờ vô lối, vô phương vô hướng, thờ khống, sửa sai danh hiệu Quan Thế Âm xúc phạm đức Bồ tát, cũng như việc choàng áo các thánh tượng Bồ tát Quan Âm lộ thiên chắc chắn sẽ được điều chỉnh và sẽ không còn thực hiện trong nay mai. Tuy nhiên, Sư có lời khuyên quý phật tử không nên quan tâm làm gì, tổn hao năng lượng trí tuệ quý phật tử ạ!

Nhìn vào áo choàng thánh tượng Bồ tát Quan Âm, ta nghĩ là thờ “sai” thì chưa phải. Nếu ta nghĩ là thờ “đúng” thì cũng không phù hợp với sự trang nghiêm thờ phụng kim thân Phật. Việc sùng bái thờ phụng này Phật giáo Việt Nam, phật tử Việt Nam không có, hơn nữa thánh tượng đã có đúc sẵn mão, áo choàng. Hai ý kiến trái chiều thường là làm mất lòng đại chúng tăng ni tín đồ, kể cả bản thân. 

Đến ngày lễ vía 19 tháng 2 ÂL, ngày 19 tháng 6 ÂL, 19 tháng 9 ÂL Sư tổ chức lạy Ngũ Bách Danh Quan Thế Âm, đồng thời nhân buổi lễ này lúc nào cũng khuyên chư tín đồ phật tử người Hoa, người Việt không nên cúng áo choàng đức Bồ tát Quan Âm lộ thiên, vì khi tạc tượng nhà điêu khắc cũng đã chạm áo cho thánh tượng rồi, làm như thế cũng rất hao tốn tiền bạc. 

Tuy nhiên, khi Sư khuyên được người này vừa xong, thì người khác đến cúng dường, khuyên người khác không cúng áo choàng thì người kia lại cúng. Cứ như thế chuyền nối nhau trở thành mất kiểm soát trong việc cúng dường áo choàng thánh tượng đức Bồ tát.

Phật tử ở xa đến đảnh lễ thánh tượng Bồ tát thấy có thêm áo choàng cũng nhức nhối, xốn mắt lắm! Sư lúc nào cũng nhắc nhở tín đồ phật tử không cúng áo choàng. Có người cũng nghe lời, có người buồn trách: “Sư Ông cản trở việc làm “phước” của chúng con rồi ạ!”

“Dương gian Phật pháp hai đàng
Sao cho thuận thế muôn ngàn lê dân
Cũ nên sửa mới lần lần
Đừng quan tâm lắm cõi tham sân này”.

Hòa thượng Thích Giác Quang

Ý kiến phản hồi









 Refresh